Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
TP.Hồ Chí Minh, Vietnam
Nhà lưu niệm Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (1922-1995) - Quản lý: Ông Hoàng Anh Thi (con trai cố Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện) - Địa chỉ: 2/47 Phan Thúc Duyện, P.4, Q.Tân Bình, TP.HCM - Email: nhaluuniem.hoangthethien@gmail.com - Tel: (84-28) 38111467 - Mobile: 0918 636 791 - Website: www.hoangthethien.net
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết có liên quan đến Hoàng Thế Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết có liên quan đến Hoàng Thế Thiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2021

Người Cha nhân từ, người Thầy mẫu mực

Cho tới mùa xuân năm 1996 tôi đã sang tuổi 63 tức là đã gần với tuổi Cha tôi lúc Người vĩnh viễn ra đi (67 tuổi). Mấy năm này tôi mới có thời gian suy ngẫm, ôn lại lịch sử đời mình mà trong đó có đến nửa thời gian là gắn bó với gia đình. Càng ngẫm nghĩ càng thấy thêm yêu mến, tự hào về gia đình, dòng họ nhà ta, càng thấy trách nhiệm mình trong việc giáo dục con cháu, mong muốn phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình mà các cụ đã xây dựng.

Hình ảnh Cha khi tôi còn thơ ấu

Tôi nhớ lại vào khoảng 1939-1940, gia đình lúc đó đã có tới 8 anh chị em: 6 trai, 2 gái (sau đó ngày 6.01.1946 mẹ sinh em Đại Đồng, và tới cuối tháng 10.1949 sinh em Chí Công, gia đình có 10 anh chị em). Khi đó tôi 6-7 tuổi, gia đình đang ở Hải Phòng. Là con gái nên thời ấy hai chị em tôi không được đến trường học. Cha tôi đón thầy giáo về nhà dạy cho mấy chị em: Chị Hiến Chi, Quốc Ân, Hải Đạm, Hải Khoát và Dương Danh Dy (con cô Tư Hàm). Thầy dạy lâu hơn cả là thầy Lưu Văn Thi. Thầy là học sinh trường Bonnal, là hướng đạo sinh và sau này tôi biết thầy là Việt Minh. Sau cách mạng, thầy tham gia quân đội lấy tên là Hoàng Thế Thiện, năm 1958 là chỉ huy trưởng sân bay Gia Lâm. Năm 1974 là Thiếu tướng, Chính ủy Quân đoàn 4, rồi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng Kinh tế của Bộ. Mấy năm sau thầy làm Thứ trưởng bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Thầy mất năm 1995 tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1971, thầy có đến Thanh Xuân thăm tôi và sau đó về quê Đông Tác, Trung Tự thăm mẹ tôi. Thầy là người đã sớm truyền thụ lòng yêu nước, chí căm thù thực dân Pháp cho chị em chúng tôi. Năm 1940, khi Pháp đầu hàng phát xít Đức, chính quyền thành phố Hải Phòng phát không ảnh thống chế Pétain cho mọi người, thầy bảo chúng tôi: Pétain là kẻ bán rẻ nước Pháp, các em nên xé ảnh đi. Nhà thầy rất nghèo. Chúng tôi có đến chơi nhà thầy ở đường Lạch Tray mấy lần.

Sau thầy Lưu Văn Thi, Cha nhờ một cô giáo (tôi quên mất tên cô) dạy ít lâu thì đến ngày tiền khởi nghĩa, rồi Cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng tôi bỏ học. Sau cách mạng, gia đình dọn lên Hà Nội, chúng tôi mới được cắp sách đến trường. Chị Hiến Chi và tôi học ở trường Trưng Vương, do bà Thục Viên làm hiệu trưởng.

Tính Cha rất hiền, Người không hề đánh các con một lần nào dù là tát, bợp tai. Khi bực lắm cũng chỉ nghiêm nét mặt, đằng hắng giọng. Khi các con 18 tuổi, Cha chuyển sang gọi là anh, chị. Đối với mẹ tôi cũng vậy, không bao giờ thấy hai thân to tiếng, nặng lời với nhau. Khi có trách nặng, Cha chỉ nói một câu: “Mợ mày không bằng bà nội, bà nội lại không bằng cụ” (ngày xưa cướp đến nhà, cụ bà bình tĩnh ngồi trong nhà bắn nỏ ra đuổi cướp).

Ngày ngày Cha đến trường trung học Bonnal (nay là trường THPT Ngô Quyền) dạy học. Cha đi làm bằng chiếc xe đạp màu đen, về nhà lại đặt xe lên chiếc giá bằng gỗ để dễ lau chùi.

Nhà ăn cơm ngày hai bữa: bữa sáng từ 8-9 giờ, bữa chiều 16-17 giờ. Không ăn lót dạ sáng sớm. Hằng ngày, 4 giờ sáng Cha đã dậy chong đèn đọc sách, sau đó tập thể dục, tắm nước lã dù là mùa đông (nhà tắm có vòi hoa sen, Cha người béo đứng tắm dưới vòi nước không sợ lạnh).

Bữa cơm gia đình rất giản dị, không cao lương mỹ vị như một số gia đình bậc trung hồi đó. Thường là rau muống luộc, thịt kho tàu, muối vừng hoặc canh riêu cá, giá xào, cá kho v.v... Hôm nào hào hứng Cha mới bảo người nhà mang liễn ra hiệu Hiệp Lợi ngoài phố Cát Dài mua phở về cả nhà cùng ăn. Đến tháng lương thứ 13 (thường vào ngày quốc khánh Pháp 14 tháng 7 hàng năm) Cha mua một chai xi rô cam khao cả nhà. Đàn con thích lắm. Tối tối khi rỗi việc Cha gọi các con lại đọc sách, kể chuyện, đánh đàn Băng giô cho nghe.

Từ bé tôi đã có nhận xét: Giữa Cha và các con không có sự ngăn cách quá mức như các cụ nhà Nho mà thực sự là bình đẳng, Cha coi các con như bạn của mình. Có lẽ nhờ vậy mà không khí trong gia đình luôn luôn vui vẻ, nhộn nhịp, dân chủ. Trong nhà không bao giờ thấy có chuyện bàn bạc tính toán tiền nong vụ lợi, nói xấu người này, bình phẩm người khác. Quanh mâm cơm chỉ nói chuyện gia đình vui vẻ. Anh cả (Hải Trừng) khi tranh luận thời sự quốc tế với Cha cũng có lúc gân cổ lên lý sự, nhưng Cha không hề cắt ngang hay lên tiếng phê phán.

Mỗi năm vào dịp nghỉ hè, Cha đi chấm thi một lần. Người chuẩn bị rất chu đáo: là quần áo, mang đủ giầy dép. Màu giầy tương ứng với quần áo, cravát màu đứng đắn, mũ phớt màu nâu và xám. Người thường mặc bộ complê màu nâu, mùa hè màu trắng, tóc húi cua, không để râu.

Mùa hè, lúc đi sinh hoạt Hướng đạo sinh, Cha thường mặc quần soóc, áo sơ mi cộc tay đều màu trắng, giầy thể thao, mũ cũng màu trắng (hồi đó người ta đánh mũ và giầy vải bằng thứ phấn trắng nước).

Cha lúc nào cũng khoẻ mạnh, không mấy khi đau yếu vặt. Những ngày nghỉ hằng năm Cha thường về quê (Trung Tự, Hà Nội) thăm ông bà. Có năm Người đi cắm trại tận Yên Tử, Bạch Mã cùng anh em Hướng đạo sinh. Cũng có năm Người tổ chức cho vợ con đi cắm trại bên Kiến An (núi Phủ Liễn) với các học sinh của mình.

Người mới 40 tuổi mà đã đạo mạo. Tôi nghe người ta thường gọi là “cụ giáo”, “cụ Đốc”. Các anh chị học sinh trường Bonnal rất quí Cha, họ thường đến nhà thăm thầy, có khi lại đàn hát tại nhà thầy. Anh Nguyễn Đình Thi, chị Hoàng Hải (em anh Hoàng Quý) hát rất hay.

Sau này có học sinh tuổi đã cao khi qua nhà tôi ở Trung Tự, Hà Nội vẫn ghé vào thắp hương cho thầy.

Người rất uyên thâm chữ Hán, đọc được cả cổ văn như Tứ thư, Ngũ kinh, Đường thi, các tác phẩm của Thi Nại Am, Tào Tuyết Cần... Cha bảo tôi: “Phải đọc nguyên bản mới thấy hết tính bác học của văn chương Tào Tuyết Cần, tính uyển chuyển quý phái của ngôn ngữ tác phẩm Hồng Lâu Mộng”.

Cha cũng tinh thông tiếng Pháp. Tủ sách của Người có các sách văn học cổ điển Pháp, văn học Thế kỷ Ánh sáng châu Âu. Người tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của văn hoá phương Tây cộng với cái sâu sắc, tinh tế của triết học Lão Tử, Khổng Tử ở phương Đông. Trong nhà có treo một bức tranh Khổng Phu Tử ở phòng khách.

Trong một cuộc gặp gỡ thầy trò Khu Học xá trung ương khoá 1953 –1956, thầy Đinh Gia Khánh có nói với tôi: “Cụ Tảo giỏi cả Đông Tây kim cổ” (Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Đinh Gia Khánh là thầy dạy văn học lớp 3A Xã hội chúng tôi ở Khu Học xá trung ương, Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc).

Nhưng Cha chỉ giỏi chữ Hán mà không nói được tiếng phổ thông Trung Quốc. Khi làm việc với các chuyên gia Trung Quốc, Người thường dùng “bút đàm”. Có lần tôi thấy Cha và ông khách bút đàm đến hơn 1 giờ đồng hồ, hai bên hỉ hả vui lắm.

Năm 1951, khi là Tổng Thư ký Ban Tu thư Trung ương, Cha có dịch cho Bộ Giáo dục một cuốn sách Địa lý từ chữ Hán. Dịch mất hàng năm trời nhưng sách không được in chỉ vì các danh từ phiên âm kiểu Hán Nôm làm người đọc rất khó tiếp thu, ví dụ: Stalin là Tư Đại Lâm, Italia là Ý Đại Lợi v.v... Thế là bỏ phí một năm trời lao động vất vả.

Cha rất yêu thiên nhiên. Trong sân nhà lúc nào cũng có dàn hoa thiên lý, cây khế, cây nhãn, cây hoàng lan. Khi có điều kiện, Người đưa vợ con ra tắm ở Đồ Sơn hoặc sang núi Phủ Liễn, Kiến An cắm trại. Chúng tôi còn bé mà đã phải dạy sớm, đi bộ ra cầu Niệm rồi đi tiếp xe tay sang Kiến An cắm trại tới chiều tối mới về. Sang Phủ Liễn tôi được thấy rừng thông, được hái sim ăn, được bắt châu chấu voi, hát hò với các anh hướng đạo sinh rất vui. Bọn trẻ chúng tôi còn tham gia chơi trò đánh moóc-xơ với các anh chị nữa.

Chúng tôi thường đi cắm trại ở chùa Hàng Kênh, chùa Dư Hàng, núi Cột Cờ, núi Voi, núi Vọ, v.v... Trưa nắng, cả đoàn người nghỉ dưới gốc cây thông, ăn cơm nắm với muối vừng, tôm rim, uống nước đun sôi để nguội do mẹ chuẩn bị. Thật là giản dị và vui vẻ.

Tôi nhớ có một lần nhóm bắt được một con châu chấu voi màu xanh, một con màu nâu. Cha chỉ vào tảng đá nâu, giảng giải: hai con châu chấu này có màu sắc giống màu lá cây và màu tảng đá để dễ lẩn trốn kẻ rình bắt, Đacuyn (Darwin) gọi là quy luật Vạn vật tương ứng. Sau này khi đọc tiểu sử bà Mari Quiri (Marie Curie) tôi thấy có sự liên hệ giống nhau kỳ lạ giữa lời giải thích của Cha và lời giải thích của ông Pie Quiri (Pierre Curie) về hiện tượng tự nhiên đó với bà Mari Quiri trong tuần trăng mật của ông bà.

Đồ đạc trong nhà tôi đều là những thứ giản dị. Các phòng thoáng, sáng, thường là hai ba phía có cửa sổ. Nhà xây theo kiểu nhà Ánh sáng - kiểu nhà đang được quảng bá thời đó. Các đồ gỗ đánh véc ni không chạm khắc gì. Mỗi cái đều sử dụng tiện lợi, thí dụ: phòng trẻ con có một cái tủ, chúng tôi gọi là tủ gromot. Tủ có 10 ngăn (5x2). Mỗi đứa một ngăn, tự gấp, tự lấy quần áo khi thay. Phòng ăn kê một phản gỗ trắc, cả nhà ăn trên phản đó. Tại nhà ngang có kê bàn ăn cho lũ trẻ dùng. Phòng khách gồm bàn ghế, một bộ xô pha không đệm, một tủ nhỏ đựng chiếc máy hát kiểu thế kỷ XIX, có loa, chạy bằng kim. Cha thích nghe các bài ca trù do các cô đào nổi tiếng hát. Hồi đó tôi không thích. Sau này khi có tuổi, tự nhiên tôi lại rất thích nghe hát dân ca, ca trù, nhất là các bài do nghệ sĩ nhân dân Quách Thị Hồ và nghệ sĩ ưu tú Kim Dung hát. Càng nghe càng thấm thía chất giọng cao sang, sang sảng cũng như nội dung thâm thuý của các bài ca trù đó. Ông nội tôi (cụ Cử Cầu) cũng thích nghe ca trù, thường thì Nội đưa thơ của mình sáng tác cho cô đào hát, mình thì cầm trống điểm nhịp. Nghe hát ca trù đúng là thú vui tao nhã của dân tộc ta. Vào tuổi 70 tôi lại càng thấm thía cái tinh hoa văn hoá dân tộc đó được các thế hệ cha ông giữ gìn yêu quý. Thì ra nó đã ngấm vào máu thịt mình từ thuở ấu thơ và đến nay khi về già nghỉ hưu nghe băng nhạc, đĩa CD, xem băng hình mới bộc lộ được ý thích của mình về thưởng thức văn hoá dân tộc.

Trong phòng khách phải kể đến hai chiếc tủ kính đựng đầy sách của Cha. Sách đều mạ vàng ở gáy, sắp xếp gọn gàng và dễ tìm. Tôi đọc thấy có sách văn học cổ điển châu Âu (Pháp), các tác phẩm triết học, văn học Trung Quốc cổ đại, trung đại, báo Phong Hoá ngày nay của Tự lực văn đoàn, báo Thanh Nghị. Hồi đó tôi đã đọc Lôi Vũ, AQ Chính truyện (do ông Đặng Thai Mai dịch) đăng nhiều kỳ ở báo này.

Tôi rất yêu mến tủ sách và hay lân la đến xem, lau chùi, đọc một số truyện, bài thơ tiếng Việt ở các báo đó mà ngày nay tôi vẫn còn nhớ. Lúc đó tôi đã có ý nghĩ sau này mình cũng sẽ lập một tủ sách gia đình như của cha. Nhưng mơ ước của tôi không thực hiện được vì trong hai cuộc kháng chiến, gia đình tôi phải tản cư và sơ tán, sách bỏ một nơi, chuột mối gặm mất nhiều và bị mất do phải di chuyển chỗ ở.

Theo dòng chảy của thời gian, tôi khôn lớn rồi trưởng thành dần, hình ảnh Cha thân yêu càng ngày càng in đậm trong trí óc, cứ nghĩ đến, nhìn đến ảnh Người trên bàn thờ lại chảy nước mắt, thương nhớ khôn nguôi.

Thưa Cha kính yêu, con đã nên người chính là nhờ công lao nuôi nấng, dạy dỗ của Cha Mẹ và truyền thống giáo dục của đại gia đình ta.

Buổi đầu độc lập

Năm 1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Cha được Chính phủ mời về thủ đô làm Tổng Giám đốc Nha Tiểu học vụ toàn quốc. Lúc này tình hình chính trị của đất nước rất khó khăn. Bọn Tàu Tưởng và Việt gian hay gây rối, bắt cóc tống tiền. Cha tôi được Chính phủ bố trí cho ở nhà số 9 phố Lê Thánh Tông, chung một tòa biệt thự hai tầng với ông Phạm Lợi làm Đổng lý Văn phòng Bộ Quốc gia Giáo dục (Bộ trưởng là ông Vũ Đình Hoè). Nhà tôi ở tầng hai. Cha cho hai chị em tôi đi học, thi vào lớp đệ tam trường trung học Trưng Vương. Nhưng chỉ học vài tháng thì nổ ra cuộc Toàn quốc kháng chiến.

Cha theo cơ quan xuống Vân Đình (Ứng Hoà, Hà Đông) rồi lên Việt Bắc. Tôi cùng các em và mẹ theo bà nội, chú thím Ba Nghiêm về quê bà nội ở Đông Phù, Đông Mỹ, Thanh Trì rồi sang Trung Lập, xã Ba Lăng, huyện Thường Tín, nơi có nhà một học trò cũ của ông nội. Khi Pháp đánh xuống phía Nam Hà Nội, cả đại gia đình lại theo chú Hai Kha (Thiều Chửu) ngược sông Đáy lên ở Tùng Thiện, Sơn Tây. Cho tới sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, Cha đích thân về đón cả nhà lên Thái Nguyên.

Cha tôi mua một căn nhà gỗ ở xã Tân Cương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Lúc này cảnh gia đình đông con tản cư kháng chiến thật là gian khổ, lo không đủ hai bữa ăn. Cha tự hướng dẫn các con trai lên rừng đẵn cây về làm giường kiểu kháng chiến tức là giường có chân là 4-6-8 cọc gỗ có chạc, hai thanh gỗ ngang dài làm vai giường, rồi đặt các thang giường. Giát giường là nứa đập dập đan nong đôi hoặc nong đơn. Mấy cha con tự làm lấy bếp, chuồng gà. Bọn con gái vào rừng kiếm củi, hái rau tàu bay, rau má. Sau này 4,5 mẹ con chúng tôi đi hái chè thuê cho các chủ đồi chè. Đồi chè càng rậm cỏ tranh thì giá công càng cao, hình như 3 kg chè búp được 1 kg gạo hẩm. Mấy mẹ con ngày kiếm đủ gạo ăn. Mấy em trai đặt bẫy chim cuốc, đánh cá dưới suối. Cha đi công tác xa cả tháng mới về một lần. Những ngày ở nhà Cha lao động chân tay suốt buổi. Nào chẻ lạt, đánh tranh lợp nhà, nào cuốc đất trồng rau, nom như một lão nông.

Cuối năm 1948, Bộ Giáo dục điều Cha lên Lạng Sơn mở trường Trung học Việt Bắc, đào tạo lớp trí thức đầu tiên người dân tộc. Khi nhà trường đã ổn định, Cha cho người về đón gia đình lên Lạng Sơn. Trường lúc đó ở Kéo Coong, Nà Đồng, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Lớp học là đình và các gian nhà tranh dựng dưới bóng cây ven tỉnh lộ Bình Gia - Lạng Sơn. Học sinh ở trọ trong các bản làng gần đấy. Học sinh đa số là người dân tộc Tày, một số người Dao. Nhiều anh em sau này trưởng thành giữ các trọng trách ở trung ương và địa phương như anh Bế Viết Đẳng Viện trưởng Viện Dân tộc học, anh Bế Kiến Quốc Hội Nhà văn Việt Nam, anh Phùng Đức đại tá quân đội (đã hy sinh), anh Hà Huy Thoại Trưởng ty Giáo dục tỉnh Lạng Sơn, v.v..

Thời gian làm hiệu trưởng, Cha rất bận công việc hành chính. Ngoài lãnh đạo công tác văn phòng hành chính, Cha còn dạy một số giờ các môn Vật lý, Hoá học. Trường mới thành lập nên cái gì cũng mới. Giáo viên phải tuyển từ các tỉnh về. Lạng Sơn lúc đó là tỉnh miền núi heo hút, vùng kháng chiến trải rộng khắp mạn rừng núi đá, đi lại khó khăn đặc biệt là lương thực không đủ ăn. Những ngày ở Kéo Coong gia đình thường ăn khoai lang độn gạo. Hàng ngày phải ra chợ vét “trứng chảy” (tiếng dân tộc Tày) tức từng bơ sữa bò gạo. Gạo nhà nước cung cấp không đủ. Cha ra sức tăng gia sản xuất. Nhà tôi ở trên một quả đồi, Cha cho vỡ đất trồng sắn, rồi trồng mướp, bí bầu, rau ngót, rau cải quanh nhà. Cha bắc nước chảy theo ống bương từ núi về vườn. Đất ở đây tốt lắm, rau lên xanh mơn mởn ăn không hết. Mẹ tôi còn ít vàng nữ trang phải đem bán dần để nuôi đàn con. Khí hậu Lạng Sơn dễ chịu, vùng Bình Gia không có sốt rét, con gái má cứ đỏ hây hây.

Ba chị em Ân, Đạm, Khoát theo học trung học. Hoành, Bằng, Bật, Đồng còn nhỏ thì ở nhà. Anh cả Hải Trừng đi bộ đội thoát ly, chị Hiến Chi công tác ở Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Lạng Sơn. Tám người con cùng cha mẹ sống những ngày rất gian khổ nhưng vẫn vui ở Kéo Coong, cho đến tháng 7 năm 1950 Bộ Giáo dục lại điều Cha về Tuyên Quang làm Tổng Thư ký Ban Tu thư Trung ương của Bộ, chuyên việc soạn các loại sách giáo khoa.

Thời gian ở Lạng Sơn gia đình thường ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Những đêm mùa đông khí hậu Kéo Coong xuống tới 2 độ, bọn trẻ phải nằm quanh đống lửa mà ngủ, chăn đắp không đủ, chiếu cũng không có. Chính củi của núi rừng Lạng Sơn đã sưởi ấm gia đình suốt mùa đông. Chúng tôi lúc đó đang tuổi lớn thấy các bạn đi học quần áo đầy đủ mà thèm, nhưng không hề ganh tị so đọ mà càng quyết chí học giỏi, học một năm hai lớp để mau ra công tác đỡ gánh nặng cho cha mẹ.

Tôi nhớ cuối tháng 10 năm 1949 Mẹ sinh em Chí Công, Cha đóng một cái chõng cho mẹ nằm. Bà đỡ là phụ huynh học sinh có con học trường Trung học Việt Bắc mà Cha tôi làm Hiệu trưởng, Cha biếu bà chục trứng gà.

Tôi học hai năm ở trung học Việt Bắc lên ba lớp từ đệ nhất bỏ đệ nhị lên thẳng đệ tam. Khi vào lớp đệ tam thì Cha đổi về Tuyên Quang. Mẹ và các em nhỏ vẫn ở Nà Đồng Tôi và Đạm, Khoát theo trường sơ tán sang huyện Bắc Sơn học cho đến đầu năm 1951 Cha cho người đón gia đình sang Tuyên Quang.

Chợ Ngọc - Tuyên Quang

Cả gia đình gồng gánh nhau đi qua Thái Nguyên, vượt đèo Khế, bỏ sông Lô, ngược sông Chảy qua huyện Yên Bình lên chợ Ngọc, Tuyên Quang. Cơ quan Ban Tu thư Bộ Giáo dục đóng trong rừng lim nước cực kỳ độc: tôi về đây hai tháng bị sốt rét ác tính da xanh mét, đi không vững. Ăn không đủ, thức ăn chỉ có măng và sắn, không có nước mắm, mỡ, thịt. Suối trong vắt không có cá. Trong rừng chỉ lắm ổi nhiều măng. Cả gia đình lao đao.

Đầu năm 1951 ba chị em chúng tôi xin vào học lớp ngắn hạn ở trường Sư phạm sơ cấp trung ương của Bộ mở. Cha làm việc bên Ban Tu thư. Cơm phần lớn là gạo nếp con, ăn với bí đỏ, học sinh gọi là “bí ử”. Bây giờ nghĩ lại vẫn thấy sợ món cơm gạo nếp con ăn với bí đỏ xào chay và rau tàu bay. Rừng chợ Ngọc sẵn cọp, nhiều sốt rét. Có hôm vừa chạng vạng tối tôi đã nhìn thấy cọp vào cõng lợn của dân chạy ra rừng, thật hú vía.

Tháng 7 năm 1951, tôi tốt nghiệp Sư phạm, ra dạy học cấp 1 ở trường phổ thông Tân Trào, xã Châu Sơn, huyện Yên Sơn. Còn nhớ ngày ra nhận công tác, tôi có ghé qua chỗ Cha công tác (hình như ở Chiêm Hoá). Cha làm cho một ống nứa thịt lợn rang muối theo tỉ lệ 1/1, một gói cơm nếp nắm và tiễn đưa con gái một đoạn đường. Lúc này mẹ và các em đã được Bộ Giáo dục đưa sang Khu Học xá Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Ở trong nước chỉ còn anh cả đang ở trong quân đội, chị Hiến Chi, Hải Đạm và tôi.

Cho tới năm 1952 chị Hiến Chi và Hải Đạm cũng được sang Khu học xá học Sư phạm trung cấp. Trước đó ít lâu Cha cũng sang Trung Quốc. Trước khi đi Cha không gặp được tôi, nhưng trong túi còn bao nhiêu tiền Cha gửi cho con gái thông qua thầy Hà Thế Ngữ là giáo viên trường Tân Trào và là học trò của Cha.

Khu Học xá Trung ương

Cuối năm 1951, Cha được Bộ Giáo dục bố trí làm giáo viên trường Sư phạm trung cấp ở Khu Học xá trung ương đặt tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc. Vì Cha giỏi chữ Hán nên đây là đất dụng võ của Người. Cha mải mê dịch các tác phẩm giáo dục học của Liên Xô (qua sách báo Trung Quốc) và là người đầu tiên dịch các tác phẩm Giáo dục học của Cai Rốp, Makarenko để truyền bá khoa học giáo dục-tâm lý xã hội chủ nghĩa vào trường Sư phạm Việt Nam. Người giảng môn Giáo dục học ở trường Sư phạm cao cấp, Trung cấp. Người đào tạo giáo viên Giáo dục học cho trường Sư phạm sơ cấp, rồi cùng với các giáo viên khác lập bộ môn Tâm lý giáo dục học, đưa lý luận Giáo dục học tiên tiến vào ngành giáo dục Việt Nam.

Học sinh trường Trung cấp Sư phạm Khoa học xã hội yêu mến Cha thường thân mật gọi Cha là “Ba Tảo” cùng với hai thầy dạy Lịch sử là “Ba Khang” (thầy Trần Văn Khang), “Ba Giáp” (thầy Trần Văn Giáp) là ba thầy giáo già đức độ rất có uy tín.

Cha mẹ và em Chí Công ở một gian nhà tập thể khu gia đình do Khu Học xá phân phối. Tôi ở theo lớp khu nữ sinh, chủ nhật mới về thăm cha mẹ. Hàng ngày Cha mang phích nước đến bếp tập thể lấy nước sôi, xếp hàng lấy cơm tập thể. Sáng sáng vẫn đều đặn tập thể dục, tắm nước lã, sinh hoạt tập thể với hội đồng giáo viên. Cha được các thầy thế hệ sau như thầy Hoàng Như Mai, Dương Xuân Nghiên, Đinh Gia Khánh ... rất kính trọng.

Tham gia Cải cách ruộng đất

Năm 1954, hoà bình lập lại ở Đông Dương, kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Cha cùng một một số thầy về nước tham gia cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở vùng chiến khu Việt Bắc, lúc này đã cơ bản xong, bộc lộ một số khuyết điểm rất lớn. Cha đã viết thư cho Tổng Bí thư Trường Chinh (học trò của Cha ở trường Thành chung Nam Định 1924-1925) trình bày một số sai lầm của CCRĐ. Người trở lại Khu học xá với nét mặt buồn rầu. Tôi tìm hiểu và được biết chú Hai Kha (tức cư sĩ Thiều Chửu, em ruột cha) đã mất do sai lầm của CCRĐ. Chú bị đội CCRĐ vu cáo là địa chủ bóc lột trẻ em tế bần. Chịu không nổi sự phỉ báng, xuyên tạc thô bạo về tinh thần, ý nghĩa “cứu nhân độ thế” của việc mình làm trong mấy chục năm nay, ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ (1954) chú đã trẫm mình ở đập Thác Huống trên sông Cầu, tỉnh Thái Nguyên, đúng một ngày sau khi làm giỗ cha mình (cụ Cử Cầu, tức ông nội tôi).

Mãi tới năm 1999 các cháu của chú mới tổ chức được lễ cầu siêu cho chú ở chùa Quán Sứ nhân kỷ niệm 45 năm ngày chú qua đời.

Ngày 21 tháng 6 năm 2002 các cháu lại cùng tạp chí Xưa & Nay (Hội Khoa học Lịch sử) và tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường) tổ chức hội thảo 100 năm ngày sinh Nhà Văn hoá Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha tại nhà Thái Học Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Chú là một học giả uyên thâm về Hán học và Phật học, một cư sĩ Phật giáo giàu lòng nhân ái cứu nhân độ thế. Tôi hết sức kính trọng và khâm phục chú.

Về trường Đại học Sư phạm

Cuối năm 1955, Cha được điều về làm Hiệu trưởng trường Sư phạm trung cấp trung ương Hà Nội. Tôi và các em Hải Bằng, Hải Bật, Đại Đồng lưu luyến tiễn đưa cha mẹ và em Chí Công rời Khu học xá về Việt Nam.

Công việc quản lý của Cha ở trường mới hết sức phức tạp, bởi giáo sinh từ nhiều nguồn khác nhau tập trung về trường. Trong trường có các sinh viên trường Đại học nhân dân, sinh viên các trường sư phạm ở Khu Học xá chuyển về, chẳng bên nào phục bên nào, nên gây nhiều chuyện, không được thuần như hồi ở Khu Học xá. Cha cố gắng làm hết sức mình, nhưng Người không quen công tác quản lý một trường lớn và phức tạp như vậy nên một năm sau khi đã ổn định, Cha về làm Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý giáo dục học trường Đại học Sư phạm cho tới cuối năm 1964 thì nghỉ hưu.

Năm 1966, Mỹ gây chiến tranh phá hoại leo thang miền Bắc. Cha theo gia đình riêng của tôi sơ tán lên Canh Nậu, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Cha nói với Mẹ tôi: “Chồng nó đi chiến đấu xa, tôi phải lên chăm nom mẹ con nó”. Tôi xin ghi nhớ suốt đời tấm lòng thương yêu con gái này của Cha. Khi Bộ Giáo dục lên sơ tán mạn gần đó, các cán bộ giáo dục lão thành thường đến thăm Cha.

Cha con, ông cháu ở với nhau rất đầm ấm. Có miếng gì ngon tôi đều mời Cha dùng để Người vui vẻ lúc tuổi già. Nào ngờ chỉ được mấy tháng, tháng 9 năm 1966, Cha bị xuất huyết não. Tôi nhờ được một số người võng đưa Cha lên bệnh viện Thạch Thất, rồi gọi điện về Hà Nội đưa ô tô lên đón cha về bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô. Do tuổi già, đường xa lại xóc, thuốc men chữa bệnh não lúc đó chưa có gì nên được một tuần thì cha qua đời (ngày 26 tháng 9 năm 1966 tức ngày 12 tháng 8 Bính Ngọ).

Cha mất đi khi gia đình còn ba em chưa trưởng thành: Hải Bằng đang học tại Học viện Thủy lợi, Đại Đồng đang trong quân ngũ, Chí Công đang du học bên Tiệp Khắc. Hải Bật thì đang chiến đấu ở miền Đông Nam bộ. Sau này các em đều phấn đấu trưởng thành cả.

Thế là từ nay Cha vĩnh viễn ra đi, để lại nỗi đau thương nhớ tiếc cho mẹ và các con cùng anh em họ hàng, bà con và học trò trên khắp cả nước.

Cha tôi thực sự là một người cha nhân từ, người thầy nghiêm khắc mẫu mực hết lòng thương yêu chăm lo dạy dỗ con cái nên người. Hình ảnh của Cha mãi khắc sâu trong trái tim con.

Hà Nội, 1996

Nhà giáo Nguyễn Thị Quốc Ân

(Trích từ tập hồi ức "Trong sáng những tấm gương")

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2020

Kỷ niệm 45 năm chiến thắng Xuân Lộc (21-4-1975 - 21-4-2020): Chiến dịch Xuân Lộc - điển hình về nghệ thuật dùng mưu kế đánh địch

Từ ngày 9 đến 21-4-1975, ta mở chiến dịch Xuân Lộc. Đây là chiến dịch đặc biệt quan trọng, diễn ra rất ác liệt vì địch tăng cường phòng thủ và kêu gọi binh sĩ tử thủ. Tuy nhiên, sau khi tấn công không hiệu quả, ta đã dùng mưu kế đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc, mở rộng đường tiến thực hiện Chiến dịch Hồ Chí Minh. Chiến dịch Xuân Lộc được coi là một điển hình về nghệ thuật dùng mưu kế đánh địch trong kho tàng lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại. 

Mưu kế được thể hiện cụ thể trong ý định, chủ trương, kế hoạch tác chiến và trong toàn bộ quá trình lập thế trận, điều khiển thế trận. Thế trận sâu hiểm phản ánh mưu cao, kế giỏi. Muốn đạt tới mưu cao, kế giỏi trong chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, phải trải qua sự nghiên cứu tổng hợp về địch, ta, địa hình và hình thái bố trí của hai bên trên chiến trường; có kết luận đúng về chỗ mạnh, chỗ yếu, về âm mưu, thủ đoạn, quy luật hoạt động và phương thức tác chiến của địch. Trên cơ sở đó mà lập mưu kế tiêu diệt, đánh bại địch. Ở Chiến dịch Xuân Lộc, tại thời điểm đầu ta chưa xác định đúng thực lực của địch cả về lực lượng, tinh thần chiến đấu nên không thực hiện ý định. Nhưng sau đó, do kịp thời nhận định tình hình nên ta đã chuyển hướng, khiến địch bị bất ngờ và phải tự rút bỏ Xuân Lộc. 

Xuân Lộc là một thị xã thuộc tỉnh Long Khánh, cách Sài Gòn 60km về phía đông bắc là phòng tuyến trọng tâm để địch ngăn ta cơ động theo Đường 1 và Đường 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Tại đây, địch đã tập trung một lực lượng lớn phòng thủ Xuân Lộc, nòng cốt là Sư đoàn 18 bộ binh, một đơn vị thiện chiến của Quân đoàn 3 ngụy. Tuyến phòng ngự của Sư đoàn này được xác định trên một chính diện từ 30 đến 40km, từ Túc Trưng qua Dầu Giây, thị xã Xuân Lộc đến ngã ba Tân Phong. Các vị trí phòng thủ được tăng cường thêm mìn, hàng rào dây thép gai, vật chướng ngại chống tăng, kết hợp với hệ thống đồn bốt bảo an, dân vệ chăng ra thành một mạng lưới dày đặc, hòng buộc quân ta phải lùi dần từng bước, khi tới ven đô thì kiệt sức.

Để đập tan “cánh cửa thép” Xuân Lộc, ta tập trung hai sư đoàn tiêu diệt sư đoàn 18 ngụy, giải phóng chi khu Xuân Lộc và từ ngã ba Dầu Giây đến núi Chứa Chan. Một sư đoàn khác bao vây chia cắt địch ở Gia Kiệm, Túc Trưng, tạo điều kiện diệt quân ứng cứu của địch, nắm thời cơ tiến công giải phóng chi khu Gia Kiệm - Dầu Giây, đường 20. Để thực hiện mục tiêu này, ta sử dụng lực lượng Quân đoàn 4 (Sư đoàn 7, Sư đoàn 341, Sư đoàn 6) tăng cường Sư đoàn bộ binh 6, hai tiểu đoàn xe tăng và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương Khu 7 do đồng chí Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh cùng Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy tiến công Xuân Lộc. 

Sáng 9-4, từ các hướng đã xác định, ta đồng loạt nổ súng tiến công địch nhưng bị địch phản kích mãnh liệt, khiến cuộc chiến trở nên hết sức quyết liệt. Các Sư đoàn 7, Sư đoàn 6 và Sư đoàn 341 của ta đã phải tổ chức tiến công nhiều lần vào thị xã, đánh đi đánh lại diệt từng mục tiêu và phải nhiều lần đẩy lùi các cuộc phản kích của địch. Địch tăng cường lực lượng cho Xuân Lộc. Ngày 12-4, địch đổ lữ đoàn 1 dù xuống ngã ba Tân Phong. Tiếp đó, địch điều lữ đoàn 3 thủy quân lục chiến, chiến đoàn 318 biệt động đến Trảng Bom, chiến đoàn 322 biệt động ở Bàu Cá, chiến đoàn 315 ở Bàu Hàn, điểm cao 122, trung đoàn 8 thuộc sư đoàn 5 từ Lai Khê sang Bàu Cá. Tính ra, địch đã tập trung ở khu vực này 50% lực lựợng bộ binh, 60% pháo binh và hầu hết xe tăng, xe thiết giáp của Quân đoàn 3 cùng lực lượng tổng dự bị tương đương một sư đoàn. Không quân địch ở các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất được huy động trung bình 80 lần chiếc/ngày để chi viện trực tiếp cho các mũi phản kích. Địch sử dụng cả bom CBU55 mà Mỹ vừa cung cấp trong thời gian tướng Wayend sang Sài Gòn để ngăn chặn ta.

Qua năm ngày chiến đấu, tuy ta đã chiếm được một số mục tiêu, diệt một bộ phận sinh lực địch và giữ được một số bàn đạp quan trọng, nhưng ta chưa diệt gọn được một tiểu đoàn nào của chúng, bộ đội bị thương vong nhiều. 

Từ nhận định Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối với Biên Hòa, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đường 1, chặn đánh địch từ Trảng Bom lên; đánh chiếm Tân Phong, cắt đường 2 đi Bà Rịa. Ngay lập tức, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã ra lệnh ngừng tiến công thị xã, mỗi sư đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn kiềm chế nghi binh địch còn lại lui ra phía sau củng cố làm lực lượng cơ động. Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B (vừa được trên tăng cường) tổ chức bao vây tiêu diệt Chiến đoàn 52 địch, thực hiện chốt chặn chiến dịch, diệt quân địch từ Biên Hòa, Trảng Bom lên phản kích. Trung đoàn 209 triển khai trên dải ở phía bắc chi khu Tân Phong chặn đánh Lữ đoàn 1 dù không cho chúng vượt qua cầu Gia Liên để phối hợp với Chiến đoàn 43 trong thị xã. 

Trong khi ta chuyển thế trận, địch tưởng rằng chúng đã đẩy lùi được cuộc tiến công của ta. Rạng sáng ngày 15-4, pháo chiến dịch bắn dồn dập vào sân bay Biên Hòa, cùng lúc Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B đã tiêu diệt chiến đoàn 52, diệt gọn một tiểu đoàn pháo, một chi đoàn thiết giáp, giải phóng hoàn toàn chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt đường 1 đoạn Xuân Lộc - Bàu Cá, đường 20 đoạn Túc Trưng - ngã ba Dầu Giây.

Trong hai ngày 16 và 17-4, Quân đoàn 3 ngụy ở Trảng Bom đốc thúc lữ đoàn 3 thiết giáp cùng chiến đoàn 8 sư đoàn 5 với hơn 100 khẩu pháo ở các căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và 125 lần chiếc máy bay mỗi ngày chi viện, phản kích hòng chiếm lại khu vực Dầu Giây. Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B chặn đánh địch quyết liệt ở Hưng Nghĩa và điểm cao 122, diệt gọn một tiểu đoàn, bắt hơn 100 tên, đẩy lùi quân địch xuống Bàu Cá. 

Trước nguy cơ Xuân Lộc mất giá trị phòng thủ vì mất Dầu Giây và do bị bất ngờ về mưu kế chuyển đổi thế trận của ta, địch đã tổ chức rút lui. Đề nghi binh cho hành động này, địch bắn pháo vào trận địa của ta. Lúc 17 giờ, phát hiện thấy quân địch đi lại nhiều, phán đoán chúng có thể rút khỏi thị xã theo hướng đường 2 về Vạn Kiếp, Bà Rịa và Sở cao su Ông Quế về Nước Trong hoặc Trảng Bom; Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho các đơn vị tiến công và truy kích địch. Sư đoàn 341 tiến đánh vào thị xã rồi phát triển theo đường Sở cao su Ông Quế, Sư đoàn 7 đánh chiếm nam Tân Phong, chặn đường số 2, Sư đoàn 6 tổ chức chặn địch ở Sở cao su Ông Quế, các tiểu đoàn địa phương chốt chặn và truy kích địch trên đường 2. Ngày 21-4, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được giải phóng, chiến dịch tiến công Xuân Lộc kết thúc.

Kết quả, ta đã đánh thiệt hại nặng sư đoàn 18, lữ đoàn dù 1, tiêu diệt chiến đoàn 52, đánh thiệt hại trung đoàn 5 và lữ đoàn 3 thiết giáp, loại khỏi vòng chiến đấu 2.056 tên, bắt 2.785 tên địch, thu 48 ô tô, 1.499 súng các loại, phá hủy 42 xe tăng, xe thiết giáp, 16 ô tô, giải phóng Xuân Lộc và toàn bộ tỉnh Long Khánh.

Chiến dịch tiến công Xuân Lộc thắng lợi đã đập tan “cánh cửa thép” phía đông, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở quanh Sài Gòn, làm suy sụp nhanh thêm tinh thần chiến đấu của quân ngụy. Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra một địa bàn tập kết thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực tiến công vào Sài Gòn từ hướng đông, một thế trận mới rất có lợi cho Chiến dịch Hồ Chí Minh đã mở ra.


Trung tá Ths VŨ BÌNH TUYỂN (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam)



Tài liệu tham khảo:


1. Sự kiện và những con số lịch sử

2. Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc


Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

Chiến dịch Xuân Lộc trong Đại thắng mùa Xuân 1975

Đầu tháng 4/1975, quân ta mở cuộc tiến công giải phóng Xuân Lộc nhằm đập tan “cánh cửa thép” cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, mở đường cho quân và dân ta nhanh chóng tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước trong mùa Xuân 1975.

Sau khi chiến dịch giải phóng Trị Thiên – Huế và Đà Nẵng (tháng 3/1975) của đại quân ta liên tiếp giành thắng lợi giòn giã, Mỹ - ngụy vội vã tổ chức tuyến phòng thủ mới, kéo dài từ Phan Rang qua Xuân Lộc đến Tây Ninh, trong đó Xuân Lộc, một thị xã thuộc tỉnh Long Khánh (nay là tỉnh Đồng Nai), cách Sài Gòn 60km về phía Đông Bắc, phòng tuyến trọng tâm để địch ngăn ta cơ động theo Đường 1 và Đường 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Tướng Mỹ Uây-len (Weyand), Tham Mưu trưởng Lục quân Mỹ, nói với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng ngụy rằng: “Phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”.

Từ nhận định trên, địch tập trung một lực lượng lớn phòng thủ Xuân Lộc, nòng cốt là Sư đoàn 18, một đơn vị thiện chiến của Quân đoàn 3 ngụy. Tuyến phòng ngự của Sư đoàn này được xác định trên một chính diện từ 30 đến 40km, từ Túc Trưng qua Dầu Giây, thị xã Xuân Lộc đến ngã ba Tân Phong. Ngoài ra, địch bố trí thêm 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn thiết giáp và 9 tiểu đoàn bảo an. Trong quá trình cố thủ bảo vệ Xuân Lộc, địch chi viện thêm Lữ đoàn dù 1, Trung đoàn Bộ binh 8 thuộc Sư đoàn 5 ngụy, 01 liên đoàn biệt động quân và 1 trung đoàn thiết giáp.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng..., một mặt cần cơ động nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động”. Ngày 02/4/1975, Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã quyết định mở cuộc tiến công giải phóng Xuân Lộc nhằm tiêu diệt Sư đoàn 18 ngụy ở vòng ngoài, cắt giao thông, cô lập và phá âm mưu phòng ngự Sài Gòn từ xa, đồng thời mở đường cho quân ta tiến công giải phóng hoàn toàn miền Nam. Nhiệm vụ tiến công Xuân Lộc được giao cho Quân đoàn 4, được phối thuộc Sư đoàn Bộ binh 6, 02 tiểu đoàn xe tăng và 02 tiểu đoàn bộ đội địa phương; đồng chí Hoàng Cầm là Tư lệnh Chiến dịch, đồng chí Hoàng Thế Thiện là Chính ủy Chiến dịch.

Ngày 03/4, tại Sở Chỉ huy ở phía Đông cầu La Ngà, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã họp và đề ra hai phương án tiến công Xuân Lộc:

Phương án 1: Tập trung 02 sư đoàn tiêu diệt Sư đoàn 18 ngụy, giải phóng chi khu Xuân Lộc và từ ngã ba Dầu Giây đến núi Chứa Chan; 01 sư đoàn bao vây chia cắt địch ở Gia Kiệm, Túc Trưng tạo điều kiện diệt quân ứng cứu của địch, nắm thời cơ tiến công giải phóng chi khu Gia Kiệm – Dầu Giây, Quốc lộ 20;

Phương án 2: Nếu tình huống không có lợi thì tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở bên ngoài, giải phóng hai chi khu Tân Phong và Gia Kiệm, tiêu diệt quân viện trợ của địch tiến tới tiến công dứt điểm Long Khánh và tổ chức đánh địch rút lui.

Trước tình hình chiến sự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định tiến công thị xã Xuân Lộc theo Phương án 1, cụ thể: Sư đoàn 7 tiến công trên hướng chủ yếu từ phía Đông Thị xã, có nhiệm vụ đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 5, Chiến đoàn 43, Sở Chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy, diệt toàn bộ quân địch ở phía Đông Thị xã; Sư đoàn 341 tiến công trên hướng thứ yếu từ phía Bắc Thị xã, có nhiệm vụ đánh chiếm Ty cảnh sát, Khu cố vấn Mỹ, Dinh Tỉnh trưởng và cùng Sư đoàn 7 phát triển xuống phía Nam; Sư đoàn 6 chia cắt ở Đường 1, đoạn ngã ba Dầu Giây, có nhiệm vụ tiêu diệt các chốt địch từ ấp Hưng Lộc đến đèo Mẹ Bồng Con, đánh viện binh và đánh địch rút chạy. Quân đoàn tổ chức bốn cụm pháo, hai cụm cao xạ chi viện và bảo vệ cho các hướng chiến đấu.

Sáng 09/4/1975, theo kế hoạch, các cánh quân của ta đồng loạt nổ súng đột phá Xuân Lộc và tiểu khu Long Khánh. Trong ngày đầu, ta đã chiếm được một phần hai Thị xã, toàn bộ Khu hành chính Tiểu khu, đã đưa được ba tiểu đoàn vào bên trong và thực hiện cắt Đường 1 ở đoạn ngã ba Dầu Giây – đèo Mẹ Bồng Con. Sáng 10/4, ta tiếp tục đột phá Xuân Lộc, chiếm sân bay, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 43 thuộc Sư đoàn 18 ngụy, đánh Lữ đoàn dù 1 đổ xuống Tân Phong vừa được chi viện. Địch phải điều thêm 1 liên đoàn biệt động quân và Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn Bộ binh 5...

Qua 05 ngày chiến đấu, tuy ta đã chiếm được một số mục tiêu, diệt một bộ phận sinh lực địch và giữ được một số bàn đạp quan trọng nhưng ta chưa diệt gọn được một tiểu đoàn nào của chúng, bộ đội bị thương vong nhiều. Bên cạnh đó, từ nhận định Xuân Lộc chỉ có giá trị khi được nối với Biên Hòa, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chủ trương lập thế trận mới, cô lập và cắt rời Xuân Lộc ra khỏi Biên Hòa bằng cách đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt Đường 1, chặn đánh địch từ Trảng Bom lên, đánh chiếm Tân Phong, cắt Đường 2 đi Bà Rịa. Ngay lập tức, Bộ Tư lệnh ra lệnh ngừng tiến công thị xã, mỗi sư đoàn chỉ để lại một tiểu đoàn kiềm chế nghi binh địch, còn lại lui ra phía sau củng cố làm lực lượng cơ động.

Trong khi ta chuyển thế trận, địch tưởng rằng chúng đã đẩy lùi được cuộc tiến công của ta, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên truyền về “chiến thắng Xuân Lộc” và “khả năng chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng hòa đã phục hồi”.

Rạng sáng 15/4, pháo của ta bắn dồn dập vào sân bay Biên Hòa, Sư đoàn 6 và Trung đoàn 95B tập kích diệt gọn Trung đoàn 52 ngụy, giải phóng hoàn toàn chi khu Gia Kiệm, ngã ba Dầu Giây, cắt đứt Đường 1 đoạn Xuân Lộc – Bầu Cá, Đường 20 đoạn Túc Trưng – ngã ba Dầu Giây. Trong hai ngày 16, 17, ta chặn đánh, đẩy lùi Trung đoàn Thiết giáp 3 và Trung đoàn 8 địch chi viện từ phía Biên Hòa đến. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 18/4, Sư đoàn 18 ngụy rút chạy, chiều tối ngày 20/4, địch ở Xuân Lộc rút chạy. Do phát hiện và tổ chức tiến công, truy kích địch chậm, mặt khác do trời tối, mưa to nên ta chỉ diệt được một bộ phận đi sau của địch, bắt sống tên Đại tá, Tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh. Ngày 21/4, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh được giải phóng, chiến dịch tiến công Xuân Lộc kết thúc thắng lợi.

Kết quả, sau 11 ngày chiến đấu kiên cường, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, trực tiếp là Bộ Tư lệnh Chiến dịch, ta đã làm chủ hoàn toàn thị xã Xuân Lộc và toàn bộ tỉnh Long Khánh; đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 18, Lữ đoàn dù 1, tiêu diệt Trung đoàn 5 và Lữ đoàn Thiết giáp 3; diệt hàng nghìn tên, bắt 2.785 tên địch; thu 48 ô tô, 1.499 súng các loại, phá hủy 42 xe tăng, xe thiết giáp và 16 ô tô của địch.

Chiến thắng Xuân Lộc là một trong những điểm nhấn của Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử. Đó là trận đánh cam go, ác liệt, thể hiện sự mưu trí và sáng tạo của quân ta, đã đập tan “cánh cửa thép” cửa ngõ phía Đông Sài Gòn, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch và khiến tinh thần chiến đấu của quân ngụy suy sụp nhanh chóng. Thắng lợi này đã tạo ra một địa bàn tập kết thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực của ta tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, mở ra thế trận mới có lợi cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng./.

Tài liệu tham khảo:

1. Đặng Việt Thủy, Đặng Thành Trung, Tổng tiến công và nỏi dậy mùa xuân năm 1975, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015.

2. TS. Phạm Bá Toàn, Quyết định lịch sử, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015.

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2020

Phố Hoàng Thế Thiện tại Thủ đô Hà Nội được công nhận là tuyến phố đạt chuẩn văn minh đô thị năm 2020

Đánh giá tuyến đường, tuyến phố văn minh đô thị, phường văn minh đô thị trên địa bàn quận Long Biên. Chiều ngày 27/03/2020, tại hội trường Quận ủy, Ban chủ nhiệm Chương trình số 03-CTr/Qu của Quận ủy đã tổ chức hội nghị đánh giá tuyến đường, tuyến phố văn minh đô thị, phường văn minh đô thị. 

Đồng chí Nguyễn Văn Liêm - UVBTV, Phó chủ tịch HĐND quận, Phó chủ nhiệm chương trình số 03 chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Mạnh Trình – Phó Chủ tịch UBND quận; các đồng chí Chủ tịch Ủy ban MTTQ; Trưởng ban Dân vận, ban Tuyên giáo; Chủ tịch Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Quận Đoàn; Chánh VPQU, VPHĐND & UBND; Phó Trưởng các phòng: Quản lý đô thị, Kinh tế, Y tế, Ban QLDAĐTXD, Trung tâm phát triển quỹ đất, Văn hóa & Thông tin; đồng chí đội phó Công an quận. 

Tại cuộc họp, Lãnh đạo phòng Văn hóa & Thông tin báo cáo kết quả đánh giá các tiêu chí đối với 02 phường Bồ Đề và Ngọc Lâm và đề xuất đạt chuẩn văn minh đô thị đối với 2 phường nêu trên. Lãnh đạo phòng Quản lý đô thị báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá tuyến đường, tuyến phố văn minh đô thị trên địa bàn quận Long Biên năm 2020 đề nghị Ban chủ nhiệm Ctr/03 công nhận 30 tuyến đường, tuyến phố đạt chuẩn văn minh đô thị năm 2020 (Bao gồm 23 tuyến đăng ký năm 2019, 07 tuyến đăng ký năm 2019 – 2020: Phố Ngô Gia Khảm, phố Long Biên 1, phố Hồng Tiến, đường Chu Huy Mân, đường Lưu Khánh Đàm, đường Phúc Lợi, phố Việt Hưng, phố Sài Đồng, phố Hoàng Thế Thiện, phố Gia Thụy, phố Long Biên 2, đường Nam Đuống, phố Đặng Vũ Hỷ, đường Mai Chí Thọ, đường Đoàn Khuê, đường Trần Danh Tuyên, đường Đàm Quang Trung, phố Phan Văn Đáng, đường Vạn Hạnh, phố Kim Quan Thượng, phố Nguyễn Lam, phố Vũ Đức Thận, Đào Văn Tập, Đinh Đức Thiện, Bùi Thiện Ngộ, Nguyễn Văn Ninh, Ngô Huy Quỳnh, Ngô Viết Thụ, Gia Thượng) trong đó tuyến đường Lý Sơn cần thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý thường xuyên không để phát sinh; bên cạnh đó, 09 tuyến đã được công nhận năm 2018 và các tuyến không đạt chuẩn văn minh đô thị: 04 tuyến (Phố Tư Đình – phường Long Biên, phố Huỳnh Tấn Phát – phường Thạch Bàn, đường Cổ Linh – phường Long Biên, phố Trần Văn Trà – phường Đức Giang, Việt Hưng). 

Sau khi nghe báo cáo của 02 đơn vị; Lãnh đạo UBND quận, lãnh đạo đơn vị các phòng ban, ngành đều thống nhất với nội dung đề xuất của cơ quan thường trực về việc công nhận 02 phường Bồ Đề, phường Ngọc Lâm đạt chuẩn văn minh đô thị; công nhận 30 tuyến đường, tuyến phố đạt chuẩn văn minh đô thị năm 2020 (Bao gồm 23 tuyến đăng ký năm 2019, 07 tuyến đăng ký năm 2019 – 2020) và các tuyến không đạt chuẩn văn minh đô thị: 03 tuyến. 

Sau khi nghe ý kiến thảo luận và đề xuất của các đơn vị, đồng chí Nguyễn Văn Liêm kết luận: 

1. Thống nhất với nội dung công nhận 02 phường Bồ Đề, phường Ngọc Lâm đạt chuẩn văn minh đô thị; công nhận 30 tuyến đường, tuyến phố đạt chuẩn văn minh đô thị năm 2020 (Bao gồm 23 tuyến đăng ký năm 2019, 07 tuyến đăng ký năm 2019 – 2020, riêng tuyến đường Lý Sơn cần thường xuyên tổ chức kiểm tra, xử lý thường xuyên không để phát sinh) và 04 các tuyến không đạt chuẩn văn minh đô thị (Phố Tư Đình – phường Long Biên, phố Huỳnh Tấn Phát – phường Thạch Bàn, đường Cổ Linh – phường Long Biên, phố Trần Văn Trà – phường Đức Giang, Việt Hưng). 

2. Yêu cầu UBND các phường ký Quy chế phối hợp đối với các tuyến phố, tuyến đường nằm trên địa bàn 2 phường trở lên như: Ngô Gia Khảm, Nguyễn Sơn, Việt Hưng, Cổ Linh, Sài Đồng, Phúc Lợi, Hoàng Thế Thiện, Lý Sơn. 

3. Bổ sung thêm lịch khảo sát, kiểm tra, giám sát phường Văn minh đô thị, tuyến đường tuyến phố văn minh đô thị của HĐND quận. 

4. Trung tâm phát triển quỹ đất tham mưu Ban chủ nhiệm hướng dẫn quản lý cây xanh, vườn hoa, hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn quận. 

Nguyễn Thế Tuấn

Vượt Trường Sơn thời chống Pháp (Tiếp theo số Xuân Canh Tý)

Khi bắt đầu cuộc hành quân về miền Tây thì đoàn đã gặp “sự cố”. Đoàn vừa đến chân núi Bà Đen bỗng thấy đoàn đi ngược lại dạt vào rừng. Tổ trinh sát của đoàn trên vượt lên kêu tôi đến gặp đồng chí Trần Văn Trà. Được gặp mặt một con người “bạch diện thư sinh” lại là Phó tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Phân liên khu miền Đông, vị chỉ huy một chiến trường rộng lớn nên tôi vừa kính phục vừa lo. Tôi còn thấy một chị đang nhai trầu bỏm bẻm, sau mới biết chị là Hồ Thị Bi được mệnh danh “Nữ kiệt miền Đông”. Tư lệnh Trần Văn Trà chỉ nhắc nhở đoàn chúng tôi mặc quần áo màu vàng giống màu quần áo kaki của bọn Commandos (biệt kích), phải cử tổ đi trước báo cho các đoàn đi ngược lại, tránh bắn nhầm nhau.

Vừa xuống đến Đồng Tháp Mười, một con trâu mộng xông tới húc vào Tuấn, rất may ba lô của Tuấn đầy quần áo, lại thêm cái nồi nấu cơm cột bên ngoài nên chỉ thủng nồi và ba lô, Tuấn không hề hấn gì. Một ông già Nam Bộ cho biết, trâu ở đây rất ghét bọn Tây đi càn hay bắn chết đồng bào nên thấy màu vàng là nó húc. Bị luôn hai cú, vừa đến nơi đóng quân, không chờ lệnh, tất cả đều nhúng những bộ quần áo vải xi-ta màu vàng (do Liên khu 5 cấp) xuống dưới bùn thành màu tro. Đóng quân ở gò Xa Rày thuộc tỉnh Long Châu Sa (một phần đất của 3 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc và Sa Đéc), chuẩn bị vượt sông Tiền qua miền Tây Nam Bộ. Gặp mùa nước nổi, sông Tiền rất rộng, hai bờ nước cũng ngập sâu, đi lại chỉ bằng xuồng ghe. Địch dùng tàu chiến kiểm soát con sông rất chặt. Cán bộ và nhân dân mỗi lần qua rất nguy hiểm nên gọi là “sông bạc đầu” (qua được sông là đầu sẽ bạc). Đoàn phải nằm lại chờ thời cơ.

Địch càn vào gò, đoàn di chuyển sang một nơi khác. Giặc Pháp bắn một loạt vào đám lục bình lớn chủ nhà và đồng bào đang “chém vè” tránh địch, chủ nhà bị trúng đạn. Sau cuộc càn anh em rất thương tiếc chủ nhà bị giặc giết hại, cùng gia đình lo chôn cất chu đáo. Thạc bị lạc đoàn, không biết bơi, lội ra được một quãng nước sâu phải lấy cái mũ bằng tre đặt dưới chân, nấp trong một đám lục bình nhỏ, mặt phải ngửa lên trời chịu nắng nhưng lại được an toàn.

Trong lúc toàn đoàn đi vắng, ở nhà Hiệu lấy xuồng, chưa quen chống sào, ra được một đoạn lăn tòm xuống nước, Hiệu cũng không biết bơi đang chới với, Thạc còn ở nhà  nhưng cũng không biết bơi, vớ được cây sào chìa ra cho Hiệu ôm kéo vào bờ, thoát chết.

Tình hình bớt căng, đoàn chia làm hai, tôi phụ trách nửa đoàn vượt sông về Phân Liên khu miền Tây, Hiệu đưa nửa đoàn qua chiến trường Campuchia.

Đoàn tôi về miền Tây được cấp chiếc ghe lớn nhưng không ai biết chèo, tôi cũng chỉ chèo được xuồng nhỏ. May có hàng binh đi nhờ rất thạo sông nước đảm nhận chèo lái, còn mọi người cầm một cái dằm giống như ghe đua. Trạm trưởng liên lạc dẫn nhiều đoàn cùng đi một chuyến. Ra gần đến bờ sông Tiền, thấy trước mũi một chiếc xuồng 4 chèo (chở cán bộ cao cấp) để một ruột xe hơi bơm căng yêu cầu cho xì hơi để giữ bí mật. Trong xuồng có tiếng nói vọng ra “Bí mật là bật mí hả? Không xì gì cả!”. Tôi nghe  anh trạm trưởng nói “cho vượt mấy cái trấp”, tôi cũng chẳng biết “trấp” là cái gì. Vượt sông không khác một cuộc đua ghe. Gần 20 anh em tay cầm dằm đồng nhịp đẩy chiếc ghe đi băng băng như ghe máy. Qua đến bờ bên kia cả đoàn nhẹ nhõm vì không gặp tàu tuần tiễu của địch.  Đến một đoạn có đám cỏ và bùn nhão phập phều trên mặt nước, anh hàng binh la lớn ráng bơi qua trấp, tất cả đều tập trung đẩy mạnh vượt qua mấy chục mét. Đến địa phận thuộc tỉnh Long Châu Hà (An Giang) trạm trưởng hỏi đoàn của tôi có đi chung với “ông cao cấp” nữa không. Tôi nói không, trạm trưởng nói thật tội nghiệp cho các anh cực khổ, thôi cho các anh chiếc ghe để đi tiếp.

Từ Long Châu Hà về Phân Liên khu miền Tây không còn đi chiếc ghe lớn mà được cấp xuồng ba lá 3-4 người một chiếc để dễ vác xuồng băng qua lộ Cái Sắn (từ Cần Thơ về Rạch Giá).

Về đến Bộ Tư lệnh chúng tôi được chiêu đãi một bữa trước khi đi nhận nhiệm vụ ở các đơn vị và địa phương. Trong buổi liên hoan, một bác nông dân đứng lên định phát biểu, tôi kéo tay bác với ý định để Tư lệnh phát biểu trước. Tư lệnh Dương Quốc Chính bảo tôi, tiệc liên hoan là do đồng bào đãi, nên các đồng chí phải để đồng bào  phát biểu trước. Ông còn nhắc chúng tôi “nhập gia tùy tục”, phải chan hòa với nhân dân và cán bộ, chiến sĩ địa phương. Trưởng phòng Chính trị Phân liên khu Hoàng Thế Thiện cho biết đã bố trí tôi về Tiểu  đoàn 307, đơn vị chủ lực của Nam Bộ nhưng anh Hai Khiết  ở Long Châu Hà xin tôi về tỉnh thì tôi tính sao. Khi tạm dừng ở Long Châu Hà qua tiếp xúc tôi rất mến anh Hai, tôi nhận lời về chiến trường Long Châu Hà, tuy biết trước đây là nơi gian khổ nhất miền Tây Nam Bộ.

Giữa năm 1954, tôi được phân công phụ trách đoàn cán bộ, chiến sĩ Long Châu Hà xuống dự Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua miền Tây Nam Bộ. Đang tiến hành Đại hội, Trưởng phòng Chính trị Phân Liên khu Hoàng Thế Thiện báo tin Chính phủ ta với Chính phủ Pháp đã ký kết hiệp định Genève, hết chiến tranh anh em sẽ được nghỉ ngơi. Đồng chí Ung Văn Khiêm, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục liền đứng lên giải thích ý nghĩa Hiệp định, kháng chiến chống Pháp đã chấm dứt nhưng ta còn phải tiếp tục đấu tranh, còn nhiều việc phải làm. Tôi cùng đoàn dự Đại hội tức tốc chèo xuồng từ Bạc Liêu trở về Long Châu Hà, chuẩn bị tập kết ra miền Bắc.

Nguyễn Viết Tá

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2019

Phố Tướng ở quận Long Biên

Thành lập đầu tháng 11-2003 trên cơ sở tách ra từ huyện Gia Lâm (cũ), đến nay quận Long Biên đã trở thành một đô thị khang trang, hiện đại ở phía đông bắc của Thủ đô Hà Nội. Góp phần làm nên diện mạo đô thị Long Biên hôm nay là nhiều tuyến phố rộng, dài, đẹp được gắn tên những vị tướng tài năng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Phố “lưỡng quốc tướng quân”

Một người bạn từ tỉnh miền núi Hà Giang xuống Hà Nội ghé thăm gia đình tôi chơi. Bạn nhờ tôi mua giùm một loại hàng xách tay ở phố Nguyễn Sơn, quận Long Biên. Bạn bảo rằng, từ lâu phố Nguyễn Sơn được mệnh danh là “thủ phủ hàng xách tay” vì ở đây có bán những hàng xách tay “xịn” từ nước ngoài, giá lại rẻ! Tôi nói với bạn đấy chỉ là tin đồn thôi. “Nếu không mua được hàng xách tay, thì coi như chúng ta đi dạo chơi vậy”. Nể lời bạn, tôi thuê chiếc taxi đưa bạn đến phố Nguyễn Sơn.

“Bạn có biết Nguyễn Sơn là ai không?”. Vốn học chuyên ngành sử, nên bạn tỏ ra vanh vách khi kể cho tôi nghe lai lịch về “lưỡng quốc tướng quân” Nguyễn Sơn. Ông tên thật là Vũ Nguyên Bác, người xã Kiêu Kỵ (Gia Lâm, Hà Nội). Từ năm 1926, ông tham dự lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau đó học ở Trường Quân sự Hoàng Phố, tham gia Vạn lý trường chinh trong Hồng quân Trung Hoa, làm Ủy viên Chính phủ Công nông Xô viết Trung Quốc. Năm 1945 về nước, ông làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam, Cục trưởng Cục Quân huấn, Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu IV, Liên khu V. Năm 1948, ông là một trong những người được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm thiếu tướng đầu tiên của Quân đội ta. Năm 1951, ông trở lại Trung Quốc công tác ở Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng, tham gia cuộc kháng chiến “Kháng Mỹ viện Triều”. Với nhiều công lao đóng góp cho cách mạng Trung Hoa, năm 1955, ông được Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng. Vì thế, Nguyễn Sơn được gọi là “Lưỡng quốc tướng quân” (tướng quân của hai nước Việt Nam và Trung Quốc).

Rồi bạn kể lại cho tôi một giai thoại lưu truyền về tướng Nguyễn Sơn. Khi biết mình chỉ được phong quân hàm thiếu tướng, ông tỏ vẻ không hài lòng nên gửi công văn hỏa tốc cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhã ý từ chối nhận quân hàm. Nhận được công văn, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho ông tấm card “Gửi Sơn đệ” với 12 chữ Hán “Tâm dục tế, đảm dục đại, trí dục viên, hành dục phương” (Đại ý: Người làm tướng cần phải có cái tâm nên tế nhị, chín chắn; cái gan cần phải lớn; cái trí phải suy trước nghĩ sau, toàn diện; cái đức hạnh, hành động phải đầy đủ, cương trực). Rất khâm phục, cảm kích trước tình cảm và cũng là lời nhắc nhở khéo léo của Bác Hồ, ông vui vẻ chấp thuận với cấp hàm thiếu tướng được phong của mình.

Kể xong câu chuyện về tướng Nguyễn Sơn, bạn tôi tâm sự: “Thật hiếm có lãnh tụ nào có tài cảm hóa người khác như Bác Hồ. Lời Bác dành cho tướng Nguyễn Sơn nhã nhặn mà ý tứ thâm sâu. Bài học của Bác dành cho tướng Nguyễn Sơn cũng là bài học dành cho cán bộ, chiến sĩ hôm nay, đó là luôn đặt mình vào tập thể, biết dựa vào tập thể, vì tập thể để nỗ lực phấn đấu tiến bộ và giữ được đức tính khiêm nhường, giản dị của người cách mạng”.

Hai phố rộng, dài, đẹp mang tên hai vị đại tướng

Rời phố Nguyễn Sơn, tôi đưa bạn đến thăm một trong những con phố rộng, dài và đẹp nhất ở trung tâm quận Long Biên. Đó là tuyến phố mang tên Đại tướng Đoàn Khuê, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Phố Đoàn Khuê có vỉa hè thông thoáng, trồng nhiều cây xanh, mỗi sáng chiều có hàng trăm người dân nối chân nhau dạo bộ tập thể dục, hít thở không khí trong lành trong khuôn viên đô thị sinh thái Vinhomes Riverside Sài Đồng.

Tôi hỏi bạn, nói đến gia tộc, thân thế và sự nghiệp của Đại tướng Đoàn Khuê, cậu biết có điều gì nổi bật không? Ngồi trong quán cà phê có tiếng nhạc không lời du dương, bạn nhấp ly cà phê Ban Mê nóng hổi rồi cho tôi hay, gia đình Đại tướng Đoàn Khuê là một trong những gia đình có công lớn với cách mạng. Bố của ông là cụ Đoàn Cầu, chiến sĩ cộng sản đầu tiên của làng Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Hải Lăng (nay là xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong), tỉnh Quảng Trị. Mẹ của ông là cụ Nguyễn Thị Dương. Hai cụ sinh được 8 người con thì có 5 con đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc, đó là các liệt sĩ: Đoàn Đình, Đoàn Giao, Đoàn Ngọc Anh, Đoàn Cư, Đoàn Thị Tùng. Cụ Nguyễn Thị Dương vì thế xứng đáng với danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng mà Nhà nước trao tặng đợt 1, năm 1994.

Trong không khí thân mật, như muốn gợi lại những câu chuyện danh nhân, tôi hỏi bạn, cậu có biết ở quận Long Biên còn một tuyến phố mang tên đại tướng nào nữa không? Bạn tôi lấy tay xoa xoa vào nhau tỏ ý nghĩ ngợi. Để giải quyết “khâu bí” cho bạn, tôi giải đáp ngay: Đó là phố Chu Huy Mân. Hơn chục năm công tác ở Quân khu 2, tôi hiểu khá tường tận về lịch sử LLVT Quân khu 2 gắn liền với tên tuổi của Đại tướng Chu Huy Mân. Ông nguyên là Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chu Huy Mân (năm 1913-2006) tên thật là Chu Văn Điều, quê ở xã Hưng Hòa, TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Từng bị tù đày của thực dân Pháp, nhưng ông tỏ rõ lòng trung kiên với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Ông có nhiều năm gắn bó với cán bộ, chiến sĩ, đồng bào các dân tộc Tây Bắc và giữ các chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, như: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 Cao-Bắc-Lạng; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đại đoàn 316; Chính ủy Quân khu Tây Bắc kiêm Bí thư Khu ủy Tây Bắc... Nói đến Chu Huy Mân, ông có khá nhiều điều đặc biệt. Đó là một vị tướng xuất thân từ thành phần nông dân áo vải. Kết nạp Đảng từ tháng 11-1930 khi mới 17 tuổi, ông là vị đại tướng duy nhất có thâm niên tuổi trùng với thâm niên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ðại tướng Chu Huy Mân là một tài năng quân sự, có tầm nhìn chiến lược và cũng rất tinh thông về chiến dịch, chiến thuật. Ông góp phần quan trọng vào việc phát triển nghệ thuật quân sự, đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch tổng hợp gồm hai lực lượng chính trị (đấu tranh chính trị, binh vận) và quân sự (ba thứ quân) của Quân đội ta.

Phố lưu danh “người con ưu tú dân tộc Tày” và phố “Vị tướng Chính ủy”

Tôi chia sẻ thêm với bạn: “Tôi đang cư trú tại phường Phúc Đồng. Địa bàn phường này vinh dự có 3 phố gắn liền với 3 vị tướng tên tuổi. Ngoài phố Chu Huy Mân, còn có phố Đàm Quang Trung và phố Hoàng Thế Thiện”. 

Thượng tướng Đàm Quang Trung (năm 1921-1995) tên thật là Đàm Ngọc Lưu, dân tộc Tày, quê ở xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông nguyên là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc. Năm 1937, vừa tròn 16 tuổi, ông đi theo con đường cách mạng và hai năm sau đó, ông được kết nạp Đảng. Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, ông vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Quân ủy tin tưởng giao trọng trách chỉ huy 3 cuộc duyệt binh, diễu binh lịch sử. Đó là: Cuộc duyệt binh chào mừng Ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945; cuộc diễu binh thiện chí giữa Quân đội ta và quân đội Pháp ở Vườn hoa Canh Nông (nay là Vườn hoa Lênin) ngày 29-3-1946; cuộc diễu binh chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ trở về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến, ngày 1-1-1955. Tên tuổi Thượng tướng Đàm Quang Trung từ lâu là niềm tự hào của đồng bào dân tộc Tày trên quê hương cội nguồn cách mạng Cao Bằng.



Nằm gần phố Đàm Quang Trung là phố Hoàng Thế Thiện. Con phố được HĐND TP Hà Nội quyết định đặt tên cuối năm 2018. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (năm 1922-1995) quê ở TP Hải Phòng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. Hơn 50 năm hoạt động cách mạng, gần 40 năm chiến đấu và công tác trong quân đội, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện được mệnh danh là “Vị tướng Chính ủy”, vì ông đã trải qua cương vị phó chính ủy, chính ủy của hơn 10 đơn vị. Có thể kể đến chức vụ mà ông từng đảm nhiệm, như: Chính ủy, Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân (từ năm 1959); Phó chính ủy, Phó bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304; Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Bộ tư lệnh Trường Sơn; Chính ủy đầu tiên, Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4. Theo đánh giá của những người đồng chí, đồng đội cùng thời với ông, như: Thượng tướng, GS Hoàng Minh Thảo; Thượng tướng, PGS Nguyễn Hữu An và Thiếu tướng Hoàng Đan, thì Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là “Một chính ủy hơi hiếm” vì ông vừa giỏi chính trị, vừa có kiến thức, trình độ cao về quân sự.

Đã tròn chục năm về làm công dân Thủ đô và cư trú ở quận Long Biên, do bị cuốn vào bao thứ việc chung riêng mà tôi ít khi để ý đến chuyện đặt tên phố phường. May nhờ cậu bạn vốn đam mê lịch sử đến nhà chơi, từ một chuyện gợi ý “mua hàng xách tay” ở phố Nguyễn Sơn mà bạn đã gợi nhắc, “đánh thức” tôi nhớ về một phần lịch sử truyền thống hào hùng của Quân đội ta từ những tên tuổi, tài năng, công lao lừng lẫy của nhiều vị tướng Quân đội nhân dân Việt Nam đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội trân quý đặt tên đường phố./. 

Phố Nguyễn Sơn rộng 10m, dài 1.500m, từ Vườn hoa Ngọc Lâm đến cổng sân bay Gia Lâm. Phố Đoàn Khuê rộng 40m, dài 2.100m, từ phố Trường Lâm kéo dài đến bùng binh giao đường 80m ở khu đô thị sinh thái Vinhomes Riverside Sài Đồng. Phố Chu Huy Mân rộng 40-80 mét, dài 2.400m, từ ngã ba giao cắt đường quy hoạch 48m tại Trung tâm thương mại Vincom Long Biên đến ngã giao cắt đường Nguyễn Văn Linh. Phố Đàm Quang Trung rộng 40m, dài 1.800m, từ ngã tư giao cắt đường Nguyễn Văn Linh đến ngã ba giao cắt đường đê tả sông Hồng (tại chân cầu Vĩnh Tuy). Phố Hoàng Thế Thiện, rộng 8-12 mét, dài hơn 800m, từ ngã ba giao cắt phố Chu Huy Mân tại điểm đối diện vườn hoa Phúc Đồng, đến ngã ba giao cắt phố Sài Đồng tại số nhà 85.

Ghi chép của THIỆN VĂN (Quân đội nhân dân online ngày 11-11-2019)

Nguồn: https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/pho-tuong-o-quan-long-bien-599657

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019

Đời thường tướng lĩnh: Đọc chung một lá thư nhà

“Anh Hoàng Thế Thiện là một chính ủy sư đoàn đích thực và xuất sắc”-Trung tướng, PGS Lê Hữu Đức, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu) đã viết như vậy về Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Theo lời kể của Trung tướng Lê Hữu Đức, khoảng giữa năm 1966, Lê Hữu Đức về nhận nhiệm vụ Tham mưu trưởng (sau đó là Sư đoàn phó, Tham mưu trưởng) Sư đoàn 1, Mặt trận Tây Nguyên. Ở Sư đoàn 1 lúc này, sư đoàn trưởng là đồng chí Nguyễn Hữu An (sau này là thượng tướng), chính ủy là đồng chí Hoàng Thế Thiện. Cảm tưởng lần đầu tiên của Lê Hữu Đức về Chính ủy Hoàng Thế Thiện là một con người cởi mở, dễ gần. Cùng sống, công tác và chiến đấu, Lê Hữu Đức ngày càng quý mến Hoàng Thế Thiện và gọi ông là “hạt nhân đoàn kết” của sư đoàn.

Một lần, Lê Hữu Đức trò chuyện, tâm sự cả đêm với Chính ủy Hoàng Thế Thiện bên bếp lửa trong một căn hầm giữa rừng già Tây Nguyên. Ông nói: “Tôi vào chiến trường sau các anh, kinh nghiệm chưa bằng các anh. Tôi xin tiếp tục phát huy sở trường, xông xáo, sâu sát các đơn vị”. Chính ủy Hoàng Thế Thiện bèn vỗ vai ông và nói: “Ấy chết, sao ông lại nói thế? Trong điều kiện bom đạn Mỹ dày đặc, ác liệt như vậy mà ông xông xáo là quý lắm, giúp cho Thường vụ và Bộ tư lệnh sư đoàn có cơ sở để hạ quyết tâm chính xác. Phần xây dựng kế hoạch thì còn có Thường vụ, Đảng ủy, bộ tư lệnh, cán bộ toàn sư đoàn nữa. Nhìn lại hai năm qua thì chúng ta cũng chỉ kẻ chín, người mười thôi...”.

Trong lần đi chỉ huy chiến dịch đầu mùa hè năm 1967, Sư đoàn trưởng Nguyễn Hữu An và Chính ủy Hoàng Thế Thiện về sở chỉ huy trước, riêng Sư đoàn phó Lê Hữu Đức ở lại bám trận địa cùng Trung đoàn 66, thực hiện bước tiếp theo “tìm Mỹ mà đánh”. Quả nhiên, hai đại đội quân xâm lược Mỹ hung hăng đi càn, “sập bẫy” vào thế trận Trung đoàn 66 đã giăng sẵn ở khu vực Chư Đô. Chính ủy Hoàng Thế Thiện gọi điện chúc mừng Lê Hữu Đức: “Khá lắm, ông bạn cụt thân mến, chuyển lời chúc mừng của Thường vụ và Bộ tư lệnh sư đoàn tới anh em Trung đoàn 66 nhé. Riêng ông là giành thắng lợi kép đấy, cùng lúc nhận 6 thư từ đại hậu phương tới. Có cho chính ủy kiểm duyệt không?”.

Đọc thư nhà là một niềm hạnh phúc của những người lính chiến trường, các đồng chí sĩ quan cấp cao là lãnh đạo, chỉ huy cấp sư đoàn cũng không ngoại lệ. Và cũng hồn hậu như những người lính, họ cũng sẵn sàng chia sẻ với nhau những cánh thư nhà. Nghe chính ủy nói vậy, Lê Hữu Đức vui vẻ nói ngay: “Xin chính ủy cứ tự do, nhớ chuyển thư của tôi cho anh An đọc nữa nhé”.

NGUYỄN HỒNG (Theo sách Người chính ủy Quân đội nhân dân Việt Nam)

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

Lời Bác trong sáng thu ấy...


Là người thực hiện những chuyến bay đầu tiên sau khi Trung đoàn 919 (nay là Đoàn bay 919) thành lập, Đại tá Trần Văn Nam, nguyên phi công trung đoàn đã lập nhiều thành tích xuất sắc và được tham gia đại hội thi đua của Cục Không quân. Tại đây, phi công Trần Văn Nam vinh dự được đón Bác đến thăm và nghe những lời chỉ dạy ân cần của Người.

Tháng 10-1960, sau hơn một năm thành lập, Cục Không quân tổ chức đại hội thi đua tại hội trường Trung đoàn 919. Buổi sáng ngày làm việc thứ hai, chiếc trực thăng Mi-4 số hiệu VN50D đưa Bác đi công tác về đã hạ cánh tại sân bay Gia Lâm. Khi đó, Cục trưởng Đặng Tính, Chính ủy Hoàng Thế Thiện cùng các đại biểu dự đại hội đã đứng đợi ở dưới đường băng. Phi công Trần Văn Nam và các đại biểu đã rất xúc động khi Bác bước từ trực thăng xuống, tươi cười hỏi: “Các chú không quân ra đón Bác phải không? Hôm nay Bác đi công tác về, các chú tổ chức đại hội thi đua, Bác sẽ vào thăm nhưng trước hết cho Bác đi thăm nơi ăn ở của phi công đã”.

Ông Nam kể lại: “Vừa dứt lời, Bác đi xuống dưới nhà bếp, tất cả cùng đi theo Người. Bác đi vòng quanh nhà ăn, nhìn thấy những hạt cơm rơi dưới chân bàn, Người quay sang nhắc nhở lãnh đạo Cục Không quân: Các chú phải giáo dục bộ đội về tính tiết kiệm. Người nông dân rất vất vả mới làm ra được hạt gạo. Trong khi đó, nước ta còn nghèo nên không được để cơm rơi vãi. Bác rẽ sang khu nhà ở phi công. Đó là khu nhà tiếp quản lại của Pháp nên cơ sở vật chất còn tốt, hai người một phòng, có nhà vệ sinh khép kín, tủ quần áo, nhìn thấy ngăn nắp, Bác rất hài lòng”.

Từ khu nhà ở, Bác vòng lên hội trường. Người không lên xe ô tô mà đi bộ. Trên đường đi, Bác hỏi về tình hình tư tưởng của bộ đội không quân. Đồng chí Hoàng Thế Thiện trả lời: “Thưa Bác, một số anh em vừa mới ở mặt trận về chưa được hưởng chế độ gì, quân hàm còn thấp nên cũng băn khoăn ạ”. Người ân cần nói: Bác đã nghe phản ánh ở các đơn vị khác cũng như vậy. Bác sẽ lựa lời nói với bộ đội.

Khi Bác bước tới hội trường, các đại biểu đứng lên hô vang “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Từ trên bục đoàn chủ tịch, Bác ra hiệu cho mọi người ổn định rồi nói:

- Bác nghe các cô, các chú mở hội nghị kết thúc một năm thi đua yêu nước. Bác rất vui và khen ngợi toàn đơn vị. Bác mong các cô, các chú giữ vững và phát huy thành tích, lần sau Bác đến được nghe nhiều thành tích hơn nữa.

Tiếng vỗ tay nhiệt liệt vang lên. Bác nói tiếp:

- Không quân là một tập thể rất lớn nên khi lập công là lập công tập thể. Bác ví dụ nôm na cho các cháu dễ hiểu. Cái đồng hồ chạy được là nhờ có bánh răng, chỉ cần một nấc bị hỏng là kim giờ, kim phút, kim giây không hoạt động được. Tập thể không quân cũng như chiếc đồng hồ vậy. Muốn lái máy bay tốt, an toàn phải có máy móc tốt. Nghĩa là các chiến sĩ thợ máy phải làm việc giỏi, lại cần có chỉ huy tài, có người thông báo thời tiết chính xác, vệ sinh đường băng sạch sẽ, chăm lo bữa ăn chu đáo... Đối với phi công chiến đấu, người cầm lái ấn nút máy bay cũng là thực hiện công lao tập thể. Tổ bay vận tải 3 đến 5 người cũng phải bàn bạc phát huy trí tuệ tập thể. Do vậy, các cô, các chú phải thương yêu, cùng nhau đồng lòng góp sức làm tốt nhiệm vụ.

Nghe lời Bác, tiếng vỗ tay nhiệt liệt vang lên không dứt. Người lại ân cần động viên:

- Hiện nay, việc đãi ngộ của Nhà nước tùy vào công sức đóng góp của từng người. Do vậy, các cháu không được suy bì giữa mặt đất và trên không. Hồi Bác sang Liên Xô sau nội chiến, nhân dân Liên Xô còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng vẫn có người được chăm sóc đặc biệt. Đó là các cháu thiếu nhi và các chiến sĩ lái máy bay. Các cô, các chú có hiểu tại sao không? Các cháu thiếu nhi là mầm non của đất nước, càng được nâng niu, quý trọng. Các chiến sĩ lái máy bay là những người lao động đặc biệt, vì họ không chỉ cầm lái, cầm súng đấu tranh với địch mà còn phải làm việc ngay trên trời cao, đòi hỏi phải tiêu hao nhiều sức lực. Vì vậy, Đảng và Nhà nước phải chăm sóc để bù đắp lại sức lực tiêu hao đó. Nhà nước quan tâm chăm lo sức khỏe cho phi công để sử dụng lâu dài, tiết kiệm nguồn nhân lực. Các cháu phải hiểu đào tạo phi công rất khó khăn, tốn kém, như lớp các chú ngồi đây phải đi Liên Xô, Trung Quốc học bao năm trời. Do vậy, không phải cá nhân đồng chí đó được ưu tiên mà vì lợi ích của đất nước.

Câu nói của Bác Hồ đã làm các đại biểu rất xúc động khi chạm đúng tâm tư, nguyện vọng của bộ đội. Bác hiểu quá sâu sắc về những người lái máy bay. Sau cùng, Bác nhấn mạnh:

- Điều thứ nhất Bác dặn các cô, các chú, mỗi người đều phải vì dân, vì nước cố gắng lập công xuất sắc. Điều thứ hai, mọi người đều phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau trong công tác và đời sống hằng ngày. Điều thứ ba là từ lãnh đạo đến nhân viên phục vụ đã có thành tích rồi thì phải khiêm tốn học tập, học hỏi lẫn nhau để có nhiều chiến sĩ thi đua hơn nữa.

Cả hội trường ngồi im phăng phắc nghe lời căn dặn của Người, dứt lời, mọi người đồng loạt vỗ tay. Sau khi Bác phát biểu, lãnh đạo Cục Không quân mời Bác chụp ảnh lưu niệm. Người bảo: Đông thế này không đứng ở hành lang hội trường, ta phải ngồi xuề xòa ra mới được nhiều người. Bác cháu ta quây quần như thế này quần chúng hơn. Nói rồi Bác chủ động ngồi xuống trước sân hội trường, tất cả mọi người vui vẻ đứng ngồi xung quanh Bác.

Khi Bác về rồi, đồng chí Nam vẫn còn thấy bâng khuâng xúc động vì những tình cảm của Người dành cho bộ đội không quân. Khắc ghi lời Bác dạy, trong suốt quá trình công tác, phi công Trần Văn Nam luôn cố gắng nỗ lực hết mình, bảo đảm những chuyến bay an toàn thắng lợi, xứng đáng là thế hệ phi công vận tải đầu tiên của Đoàn bay 919. Đã gần 60 năm trôi qua, nhưng những lời dạy của Bác vang lên giữa sân bay Gia Lâm trong sáng mùa thu năm 1960 vẫn mãi là lời động viên để cựu chiến binh Trần Văn Nam tiếp tục phấn đấu giữ gìn và phát huy phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

VŨ DUY (Sự kiện và Nhân chứng)

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2019

Đợt thăng và phong quân hàm cấp tướng quân đội cuối cùng trước khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sự nghiệp thống nhất đất nước thu non sông về một mối (16-04-1974).

Trang 358-359 trong quyển “Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị (Biên niên sự kiện 1945-1975)” (NXB Quân đội nhân dân, 197...) có ghi: Ngày 16-04-1974, Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký lệnh 21/LCT (trong sách in nhầm thành 24/LCT) thăng và phong quân hàm cấp tướng cho 85 cán bộ cao cấp trong quân đội.

Trong đợt này có 67 cán bộ cao cấp quân đội thụ phong quân hàm cấp tướng lần đầu:

- Thăng từ cấp Đại tá lên Trung tướng cho 2 cán bộ: Lê Đức Anh, Đồng Sỹ Nguyên.

- Thăng từ cấp Đại tá lên Thiếu tướng cho 62 cán bộ.

- Phong cấp Trung tướng cho 1 cán bộ: Đinh Đức Thiện.

- Phong cấp Thiếu tướng cho 2 cán bộ: Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Xuyến.

Trong số 62 Đại tá được thăng cấp Thiếu tướng đợt này có Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện. Ông được phong quân hàm Thượng tá tháng 12-1958. Gần 8 năm sau (tháng 02-1966), ông được thăng quân hàm Đại tá khi đang chiến đấu ở miền Nam. Gần 8 năm sau nữa (tháng 04-1974), ông được thăng quân hàm Thiếu tướng khi đang chiến đấu ở Trường Sơn.

Trong số các tướng lĩnh từng là bộ đội Trường Sơn, có 2 vị tướng được phong quân hàm cấp tướng khi đang chiến đấu ở Trường Sơn là Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn Đồng Sỹ Nguyên và Chính ủy Bộ đội Trường Sơn Hoàng Thế Thiện.

Hôm nay là tròn 45 năm ngày Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký lệnh thăng và phong quân hàm cấp tướng cho 85 cán bộ cao cấp trong quân đội - Đợt thăng và phong quân hàm cấp tướng cuối cùng trước khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, sự nghiệp thống nhất đất nước thu non sông về một mối. Nhớ và tự hào về một thế hệ tướng trận của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến vệ quốc, đã đóng góp công lao và xương máu trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong số 85 vị tướng được thăng và phong quân hàm cấp tướng lần này, có lẽ chỉ còn Đại tướng Lê Đức Anh (được thăng quân hàm Trung tướng đợt này) và Đại tướng Nguyễn Quyết (được thăng quân hàm Thiếu tướng đợt này) còn sống. Kính cẩn tưởng nhớ các cụ!





Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Phòng (*)

Từ 1939, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn không thể cung cấp cho ăn học ở Hà Nội, tôi phải chuyển về học tiếp tại trường trung học Bonnal Hải Phòng.

Lúc này, chính quyền thực dân Pháp bắt đầu khủng bố đàn áp mạnh. Đảng đã chuyển vào hoạt động bí mật, phong trào và tổ chức chính trị xã hội của quần chúng ở Hải Phòng đang trong tình trạng suy giảm, rời rạc, có nơi ắng lặng.

Tuy vậy, tại trường tôi mới tới, đã và vẫn còn nhiều tổ nhóm nhỏ học sinh, vừa công khai vừa bí mật tự động rủ nhau hoạt động văn hóa, văn nghệ, cứu tế xã hội, truyền bá quốc ngữ. Trong thanh niên học sinh, ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, dân chủ, bình dân được khuấy động và dâng cao. Ảnh hưởng rõ nét và mạnh nhất là từ tổ chức Hướng đạo, từ các thầy mô phạm, đạo đức của trường. Thầy Nguyễn Hữu Tảo, anh tráng sinh Vũ Quý – lúc đó ít người biết anh là một đảng viên Cộng sản bí mật, cốt cán của Kiến An, Hải Phòng – là những gương mặt tiêu biểu được giới học sinh ca tụng, mến phục.

Tôi với chút kinh nghiệm hoạt động trong Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội, cũng săn đón tìm kết bạn và nhập bọn. Các tổ nhóm học sinh đều là con em các gia đình “khá giả” ở Cảng và vùng mỏ, phần lớn là hướng đạo sinh, học trò ngoan và có tiếng là “học gạo”. Có những học sinh xuất sắc được mọi người biết như anh Nguyễn Đình Thi…

Sống với anh chị trong xóm lao động nghèo – ngõ Lý Tiêm đường Lạch Tray, khu Hạ Lý – tôi lại may mắn quen biết với các anh chị thư ký, thợ thuyền: anh Lễ và nhiều anh trong Ái hữu nhà máy xi măng phốt phát, xưởng Ca-rông. Đó là một nguồn quý giá tuồn vào cho nhóm học sinh những tin tức, tài liệu, sách báo tiến bộ của thời kỳ phong trào Bình dân trước còn giữ được, nói về cộng sản, xã hội, Liên Xô, Dân chủ, Phát xít…

Những “của cấm” hiếm hoi này đã được các bạn trẻ háo hức tìm kiếm, truyền tay nhau đọc, sao chép lại át cả những sách báo hay các tập văn chương lãng mạn, vốn được các con em gia đình công chức, công thương, trí thức ở đây say mê, ưa chuộng…

Năm 1940, 1941 Pháp thua trận, Nhật ngang ngược kéo vào chiếm Kiến An, Hải Phòng, đất nước bị lôi kéo đến ngưỡng cửa và nếm mùi khốc liệt của chiến tranh. Đói rách gia tăng cùng với những luận điệu giả dối, lạc lõng: “Da vàng” cứu nhau và lập “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Tình hình náo động, hỗn loạn, dường như có tiếng ai vang vọng: Việt Nam đâu? Nhục mất nước bùng lên nhức nhối tim óc. Thanh niên học sinh xôn xao, anh em nô nức rủ nhau đi tìm Cách mạng. Tin tức nóng bỏng về phong trào giải phóng cứu nước bùng lên chỗ này, chỗ kia. Những tia chớp lóe lên từ hướng chiến khu núi rừng xa xôi, từ Hà Nội văn vật. Đúng vào lúc đó Mặt trận Việt Minh xuất hiện và cũng là lúc chúng tôi may mắn bắt được liên lạc với tổ chức, mọi người mừng rỡ ùa theo. Sau khi đỗ Thành chung, chúng tôi lên Hà Nội học tiếp.

Tôi trở thành ủy viên Ban cán sự Thanh niên Thành Hoàng Diệu (Hà Nội). Cùng với anh Nguyễn Đình Thi, chúng tôi đã chắp nối được với anh Vũ Quý, anh Thản… những người đã rời Hải Phòng đi trước. Chúng tôi lại càng siết chặt mối quan hệ với các anh các chị, được coi là thê đội tiếp theo – vẫn còn đương tiếp tục học ở Hải Phòng và đã trở thành “chiến sĩ Việt Minh” rất xông xáo ngay tại trường với những tên quen thuộc: Thi B (tức Hoàng Thế Thiện), Thọ, Thanh…

Chúng tôi thực sung sướng và cảm thấy hạnh phúc, cũng không ngờ lại thấy đông đảo anh chị em, kẻ trước người sau mà đã quấn quýt được với nhau như vậy trong những ngày trọng đại của đất nước.

Đầu 1942, tôi và anh Nguyễn Đình Thi bị mật thám bắt ở Hà Nội. Chúng tôi đã được cổ vũ mạnh mẽ khi ở trong nhà giam, đã có liên lạc và được tin các bạn “Bonnalien” (dân Bonnal) ở Hải Phòng vẫn tiếp tục sôi nổi hoạt động.

Những học sinh nhỏ bé chúng tôi, vào đầu những năm 40, đã may mắn trở thành “chiến sĩ Việt Minh” và đã cùng bạn bè xông vào trận chiến đấu lớn của đất nước, từ mái trường và trong tình thương yêu trân trọng của thầy trò trường Trung học Bonnal Hải Phòng là như vậy…

Đến thời kỳ sôi sục chuẩn bị Tổng khởi nghĩa 1945, tôi được Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh giao phụ trách Đảng Dân chủ miền Bắc rồi tham gia Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội, ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Bắc Bộ nên lại có nhiều dịp gặp gỡ, tiếp xúc với các đồng chí, đồng bào trong phong trào ở Hải Phòng…

Trong những ngày mà cả Thành ủy cũng như các tổ chức Việt Minh ở Hải Phòng gặp khó khăn vì phát xít Nhật tăng cường khủng bố, một số các chiến sĩ Việt Minh ở Hà Nội, cả Dân chủ đảng và Cứu quốc, đã tranh thủ đảo về Cảng góp phần giúp cho người thân trong gia đình hay các cơ sở trí thức học sinh quen biết tạm ngừng hoặc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền xung phong, bán tín phiếu Việt Minh, tham gia công tác trừ gian… như anh Văn Cao và một số các anh khác đã làm…

Rồi đến những ngày đấu tranh quyết liệt, sau khi nhân dân Hà Nội bắt đầu chuyển mình với cuộc nổi dậy long trời lở đất ngày 17, 18, chúng tôi ở Hà Nội được ý kiến của Thường vụ Xứ ủy đã quyết định cử ngay đồng chí Vũ Quốc Uy làm phái viên đặc biệt từ Hà Nội về giúp cho Hải Phòng khởi nghĩa.

Trước đó đồng chí Uy mới được Đảng phái sang tăng cường giúp Dân chủ Đảng. Từ khi đi Hải Phòng anh được phối thuộc vào các đồng chí lãnh đạo địa phương.

Theo kể lại, đến ngày 21/8 anh Uy mới tới gặp được các đồng chí lãnh đạo Hải Phòng trên sông Tam Bạc. Các đồng chí lãnh đạo Việt Minh cho lập ngay Ủy ban Khởi nghĩa Hải Phòng. Ngày 22/8 thuyết phục Thị trưởng Vũ Trọng Khánh (vốn đã có cảm tình với Việt Minh (l), và qua Thị trưởng làm trung gian, Việt Minh đã trực tiếp thương nghị với Chỉ huy quân đội Nhật để họ không can thiệp vào việc nhân dân tổ chức giành chính quyền. Ngày 23/8, Ủy ban Khởi nghĩa đã cho tập trung hơn chục vạn đồng bào với các chiến sĩ tự vệ Việt Minh làm nòng cốt, có lực lượng vũ trang chiến khu Đông Triều và tự vệ Kiến An hỗ trợ, tổ chức mít tinh trọng thể trước Nhà hát lớn thành phố. Dưới lá cờ đỏ sao vàng quang vinh, sau tiếng hát Tiến quân ca hùng tráng, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, lập Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Hải Phòng do đồng chí Vũ Quốc Uy, đại biểu Việt Minh làm Chủ tịch, sau đó quần chúng tuần hành và chiếm các công sở…

Nhân dân Thành phố Hải Phòng đã thắng lợi một cách hết sức nhanh chóng, êm thấm và thực gọn gàng.

Từ Hà Nội chúng tôi vô cùng phấn khởi, tự hào, thấy được sự cổ vũ và hiệp đồng đấu tranh một cách mạnh mẽ, chặt chẽ và rất kịp thời, vô cùng quý giá. Đồng thời chúng tôi cũng cảm nhận sâu sắc một điều quan trọng: Nhân dân Hải Phòng đã anh dũng đứng lên tự giải phóng cho mình và giành lấy chính quyền. Một biểu hiện rực rỡ của những giá trị lâu dài trong truyền thống đấu tranh kiên cường của vùng đất có nhiều công nhân và thủy thủy. Hải Phòng đã theo sát được tinh thần lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương và Tổng bộ Việt Minh. Và thật vinh dự – Hải Phòng đã hành động nhanh chóng kịp thời với sự cổ vũ lớn lao của nhân dân Hà Nộì khởi nghĩa đang thắng lợi.

Nhưng Hải Phòng cũng có những cái riêng biệt, khác với nhiều nơi và đã được thể nghiệm, góp phần mang lại hiệu quả đích đáng. Chẳng hạn như trong vấn đề đối với người cầm đầu chính quyền bù nhìn thành phố lúc đó (Thị trưởng Hải Phòng), đối tượng chủ yếu phải đánh đổ khi khởi nghĩa. Nhưng lãnh đạo Việt Minh Hải Phòng đã chủ động tiếp xúc, mạnh bạo thu phục và sử dụng thành công và đã thu được những kết quả tích cực.

Ủy ban Khởi nghĩa Hải Phòng đã xúc tiến tổ chức cuộc gặp gỡ trực tiếp và rất quan trọng, ngày 22/8 – giữa lãnh đạo Việt Minh và Chỉ huy quân đội Nhật với sự có mặt trung gian của Thị trưởng đương quyền để thương nghị điều đình về việc tổ chức cho nhân dân Hải Phòng giành chính quyền an toàn và thắng lợi vào ngày 23/8… không phải dùng đến hình thức như “tối hậu thư” cho Chỉ huy quân đội Nhật hoặc phải có kế hoạch né tránh đụng độ với quân Nhật.

Hải Phòng đã lại vận dụng một cách mạnh bạo, nổi bật đường lối đại đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh, một nhân tố quyết định thành công cuộc Tổng Khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8. Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời thành phố, chính quyền đầu tiên của nhân dân Hải Phòng được lập ra có đại diện của Mặt trận Việt Minh, đồng chí Vũ Quốc Uy là Chủ tịch, có ủy viên hành chính, luật sư Vũ Trọng Khánh nguyên Thị trưởng cũ, có đại biểu công nhân Đoàn Văn Nhạc, đại biểu trí thức Vũ Văn Huyên, đại biểu công thương Nguyễn Thị Ngọc Mùi, đại biểu quân sự Quách Duy Yên (2).

Tiếp với Hà Nội, nhân dân Hải Phòng đã tự đứng lên làm chủ nhân chính thức thành phố Cảng một cách hết sức kịp thời là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử quan trọng trong khi chung quanh thành phố còn gần chục ngàn quân đội Nhật vũ trang đầy đủ chiếm đóng và chờ đại quân Trung Quốc được Đồng minh giao, đến để tiếp quản.

Mọi người đã không quên khi nhân dân Hải Phòng đứng lên, với khí thế cách mạng sôi sục, đã ngay lập tức ngăn chặn, đẩy lùi các toán biệt kích của quân đội thực dân xâm lược Pháp đã bắt đầu trở lại xâm nhập. Bọn chúng đã lọt vào đất Cảng từ đầu tháng 8, nhưng đến lúc đó, các tàu biệt kích Crayssac, Frézouls đã vội vàng rời khỏi Cửa Cấm, tháo chạy ra các đảo Cô Tô, Vạn Hoa trong Vịnh Bắc bộ. Toán của tên trung úy Blanchard phải chui vào ẩn trong trại lính Nhật để mãi sau mới tìm cách bắt liên lạc với Sainteny ở Hà Nội.

Còn cánh quân của Chính phủ Quốc dân Đảng Trung Hoa, lực lượng được Đồng minh giao vào Việt Nam tiếp nhận đầu hàng của quân đội Nhật và tiếp quản Bắc Việt Nam thì đến cuối tháng 8, Tập đoàn quân 53 Quảng Tây kéo theo lực lương thổ phỉ của Vũ Kim Thành (thuộc Việt Nam cách mạng đồng minh Hội của Nguyễn Hải Thần) mới tới được vùng Móng Cái và phải đến 13 – 15 tháng 9 các lực lượng này mới tới thành phố Hải Phòng và mở đầu cho các cuộc hoành hành, quấy phá khi mà nhân dân Hải Phòng, Kiến An đã đứng lên lập chính quyền làm chủ nhân thực sự cả vùng đã từ hơn một nửa tháng trước.

Hà Nội rồi Hải Phòng, theo tiếng gọi của Việt Minh đã liên tiếp chủ động tự mình đứng lên, khéo léo tự giải phóng và làm chủ thành phố một cách nhanh chóng, êm thấm hòa bình. Hai thành phố lớn hàng đầu, nhất nhì của miền Bắc, cùng với các đô thị lớn nhỏ khác như Nam Định, Hải Dương đã đấu tranh thắng lợi, hiệp đồng một cách thần tình cùng với phong trào chiến tranh du kích mạnh mẽ ở Việt Bắc và đồng bằng, góp phần giải phóng toàn miền Bắc, tạo điều kiện quyết định cho thắng lợi vĩ đại của đất nước vào ngày 2/9 lịch sử.

Lê Trọng Nghĩa

Chú thích:

* Trích cuốn Từ Hỏa Lò đến Phủ Khâm sai Bắc Bộ, Nxb Hà Nội, 2012, tr.86-93. Đầu đề là của chúng tôi.

1. Luật sư Vũ Trọng Khánh là Thị trưởng Hải Phòng sau 9/3 đến khi ta giành chính quyền là ủy viên Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Hải Phòng rồi được cử làm Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Lâm thời từ 2/9/1945. Có em là Tống – Dân chủ Đảng.

2. Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng. Tập 1, Nxb Hải Phòng, 1991.

Nguồn: http://xuanay.vn/tap-chi-xua-nay/khoi-nghia-gianh-chinh-quyen-o-hai-phong/